Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019
Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019
Thứ Tư, 2 tháng 1, 2019
Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2018
Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013
Đố Thai - Vui vẻ xóm làng: Ước nguyện của “Ông Thầy Thai cuối cùng” của đất Bãi Xàu (kỳ cuối)
Chơi
đố thai thường gắn liền với đình miếu vào dịp lễ tiết trong năm như lễ
kỳ yên, thượng điền, hạ điền hay cúng rằm. Trò chơi này quen thuộc với
không ít người ở TT.Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) từ trước năm 45 của thế kỷ XX.
Để tổ chức một đêm chơi thai không cần tốn nhiều tiền lắm, mỗi đêm chơi
chỉ cần độ 1 hoặc 2 triệu đồng tiền sắm xanh quà thưởng là được. Vậy gốc
tích của trò chơi này từ đâu?
Cụ Hai Bé rao mở đầu cuộc chơi thai đêm Rằm tháng 8 (2013)
Thai,
còn đọc là xai, từ Hán Việt có nghĩa là: nghi, bói, định chừng. Huình
Tịnh Của* trong Đại Nam quốc âm tự vị (Sài Gòn, 1896) đã cho biết như
vậy. Ông còn định nghĩa: 1/ Ra thai: ra lời hai ba nghĩa làm như câu đố;
2/ Thầy thai: thầy ra câu đố, làm lời bóng dáng mà chỉ vật; 3/ Câu
thai: câu đố. Đến đây thì đã rõ thai đố là như vậy”.
Thương cảng Bãi Xàu xưa, TT. Mỹ Xuyên ngày nay, xưa vốn là một vùng đất đô hội, nhộn nhịp bán buôn, phố chợ rộng rãi, sầm uất thì hẳn trò chơi đố thai thịnh hành từ xưa và tồn tại cho đến tận hôm nay âu cũng không phải là chuyện lạ. Một câu ca dân gian thịnh hành cho đến giờ vẫn nhắc về những “thầy thai” nổi danh ở xứ này: “Làng thai đẹp nhất tiền nhân. Xe, Sam, Lời, Hiếu danh gần, tiếng xa. Biện, Trọng lời đẹp xâu xa. Mỗi ông mỗi nét tinh hoa bốn mùa”. Xin trích vài câu thai của các vị tiền bối mà cụ Hai Bé vẫn còn giữ. Những câu thai (câu đố) nhưng chứa đựng đạo lý sống, lẽ ở đời. “Sông sâu đâu nỡ quên nguồn. Làm con đừng để đau buồn mẹ cha - Xuất địa danh; Muốn cho yên ấm gia đình. Đừng làm những chuyện bực mình với nhau - Xuất vật dụng; Thuốc chưng cách thủy lửa đều. Lửa già, thiếu lửa là điều không hay - Xuất quả…
“Ông thầy thai” Hai Bé đang đệm trống giữ nhịp đọc thai.
Ước nguyện của “Ông Thầy Thai cuối cùng” của đất Bãi Xàu!
Rằm tháng 8 năm nay (19/9/2013 dương lịch), như mọi khi, Cụ Trịnh Văn Bé (Hai Bé) vẫn là “thầy thai” cầm trống điều khiển cuộc chơi đố thai ở Miếu Thành Hoàng Bãi Xàu. Mới 9 giờ nhưng trước sân Miếu Thành Hoàng đã lu bu 7-8 người trong Bang hội Miếu lo dựng rạp, treo đèn, bài trí sân chơi. Cụ Hai Bé qua lại chỉ đạo một anh thanh niên dán lên tấm bảng những câu thai đã có đánh số. Một chú nhóc 12-13 tuổi cũng đang lui cui chép câu thai để chút nữa lên “Gú-gồ” tra cứu. Quãng 10 giờ, 25 câu thai đã dán xong, lai rai có người đến xem và bàn tán…. thai mới, thai cũ, thai ế”!? Câu thai nằm trên cùng ở góc trái bảng thai được nhiều “lão làng chơi thai” nhận định là “câu thai thủ đài” - cụ thể như sau: “Một con heo nái ủi giồng khoai. Thong thả miệt mài kiếm củ nhai. Quanh quẩn một hồi dường như chán. Phẩy đuôi về trại bị xỏ tai - Xuất vật dụng”. Câu này thuộc dạng “thai ế” bởi hơn chục năm nay chưa ai giải được? Thật vui khi tôi gặp lại câu đố mà ngày xưa tôi đã học qua hồi cấp 1: “Vừa bằng thằng bé lên ba. Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng”. Quà thưởng năm nay là 30 phần, đổ đồng mỗi phần quá là 3 gói mì, 5 cuốn tập, 2 cây viết big. Ai không nhận quà thì lấy 1 gói thuốc lá…. con mèo.
Một “cao thủ” đang “phá câu thai ế”.
Câu
thai mà tôi tưởng là dễ “Vừa bằng thằng bé lên ba. Thắt lưng con cón
chạy ra ngoài đồng” hoá ra lại khó với đám trẻ bây giờ. Phải qua 5 lần
gợi ý thì bọn trẻ mới đáp trúng là bó mạ. “Ông Thầy Thai” ta thán: “Phải
rồi! Bây giờ mấy con coi bộ hổng nhìn thấy được bó mạ vì người ta làm
lúa sạ chớ đâu còn làm lúa cấy như ngày xưa”? Cánh thanh niên có vẻ hứng
chí với câu thai dạng “tục giảng thanh” “Eo lưng thắt đít. Đút con nít,
con nít la. Đút bà già, bà già ứ hự. Đút con gái, con gái ừ” - xuất vật
dụng. Sau 7 lượt trả lời thì cuối cùng đáp án đôi bông tai đã lãnh quà.
Có thể nhận định: Thai đố là hình thức đối vui, ngoài tính giải trí trong những dịp lễ tết, cúng đình… thì đây còn là một hình thức “Đố vui để học” đã có từ xưa. Thai đố không chỉ tập cho mọi người tham gia cuộc chơi phải có sự suy luận nhanh, biết nhìn sự vật, sự việc ở góc nhìn tổng quát kết hợp với phép liên tưởng cao thì mới hòng giải đúng câu đố. Quan trọng hơn cả là tính chất cố kết cộng đồng, làng-xóm, răn dạy điều hay, lẽ phải, biết nhường nhịn trẻ nhỏ, biết kính kẻ trên, nhường người dưới qua một hình thức giải trí vui nhộn. Ở góc độ văn hoá dân gian, không ít câu thai đã trở thành những câu ca dao, tục ngữ được lưu truyền, rồi không ít những câu ca dao, tục ngữ hiện diện trong những câu thai đã đem đến sức sống mới, sinh động hơn của những câu ca dao, tục ngữ từ lời ăn tiếng nói và cả cách suy luận của dân gian.… Chuyện này hẳn những người yêu thích trò chơi này đều biết và họ đều có chung nỗi lo lắng “Liệu rồi đây khi “ông thầy thai cuối cùng của đất Bãi Xàu đi rồi thì sao”!?
Cả miền Tây Nam bộ đến giờ này chắc chỉ còn đất Bãi Xàu là còn lưu giữ được nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của tiền nhân, nhưng để duy trì và phát huy loại hình sinh hoạt văn hoá độc đáo này thì rõ ràng - đây không thể chỉ là chuyện của một vài cá nhân đơn lẻ./.
Thai (xai) có nghĩa là… đố!
Nhà
nghiên cứu văn hoá Huỳnh Ngọc Trảng với bài viết “Chơi thai đố” có tính
chất biên khảo, đăng trên báo Tuổi Trẻ, đã phân tích sâu về trò chơi
này -(http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/186541/Choi-thai-do.html). Ông
kết luận - đây là trò chơi ức đoán của người xưa. Trong bài viết này,
ông đã cung cấp 2 tư liệu quý về ý nghĩa và nguồn gốc của trò chơi này.
Xin trích dẫn lại: “…trong thủ bút của cụ Trương Vĩnh Ký (hộp II, tập
15, Thư viện KHXH tại TP.HCM) có ghi lại mấy dòng: “Nhân ngày nguyên,
trăng thanh gió mát, tạnh ráo, chủ bày ra kêu mấy anh em tới chơi. Chọn
một người hay chữ giỏi làm thầy thai ra đề, cầm trống cho người ta nói
thai. Người ta phất một lồng đèn vuông bằng giấy trắng. Bốn phía có viết
đề thai dán lên trên đó. Đề thai hoặc “xuất danh”, “xuất vật dụng, khí
dụng”, hay “xuất mộc”, “xuất thú”, hoặc “xuất tục diêu”, “bình Thúy
kiều”, hay “xuất điển”, “chiết tự”... Ai nói trúng được, trúng ý đề thai
nêu ra thì được thưởng. Mỗi đề đều nói rõ trước là sẽ thưởng vật gì như
quạt, khăn vuông, hầu bao, giấy mực... Nói trúng thì đánh một hồi
trống, nói trật thì gõ tang trống”.
Thương cảng Bãi Xàu xưa, TT. Mỹ Xuyên ngày nay, xưa vốn là một vùng đất đô hội, nhộn nhịp bán buôn, phố chợ rộng rãi, sầm uất thì hẳn trò chơi đố thai thịnh hành từ xưa và tồn tại cho đến tận hôm nay âu cũng không phải là chuyện lạ. Một câu ca dân gian thịnh hành cho đến giờ vẫn nhắc về những “thầy thai” nổi danh ở xứ này: “Làng thai đẹp nhất tiền nhân. Xe, Sam, Lời, Hiếu danh gần, tiếng xa. Biện, Trọng lời đẹp xâu xa. Mỗi ông mỗi nét tinh hoa bốn mùa”. Xin trích vài câu thai của các vị tiền bối mà cụ Hai Bé vẫn còn giữ. Những câu thai (câu đố) nhưng chứa đựng đạo lý sống, lẽ ở đời. “Sông sâu đâu nỡ quên nguồn. Làm con đừng để đau buồn mẹ cha - Xuất địa danh; Muốn cho yên ấm gia đình. Đừng làm những chuyện bực mình với nhau - Xuất vật dụng; Thuốc chưng cách thủy lửa đều. Lửa già, thiếu lửa là điều không hay - Xuất quả…
Theo
các vị cố cựu như: Ngô Chí Huỳnh, Nguyễn Văn Nhung thì trò chơi này tạm
lắng vào năm 1972, lúc này chiến tranh chống Mỹ đang ở giai đoạn cao
trào, chính quyền cũ không cho phép tụ tập đông người. Phải đến năm
1978-1979 thì mới bắt đầu chơi lại. Vì là để “vui xóm làng” nên có năm
thì tổ chức ở Đình Thần Bãi Xàu, có năm thì tổ chức ở Miếu Bà Thuỷ Long,
có khi thì ở Miếu tổ nghề Kim Hoàn. Còn trong khoảng hơn chục năm gần
đây thì thường xuyên tổ chức ở Miếu Thành Hoàng Bãi Xàu vào dịp tết
Trung thu. Trong những cuộc chơi này thì Cụ Trịnh Văn Bé (Hai Bé) luôn
đảm nhiệm vai trò “thầy thai”. Với người mê chơi thai đố thì ông còn
được đặt cho biệt danh “Ông thầy thai cuối cùng” của đất Bãi Xàu!
Rằm tháng 8 năm nay (19/9/2013 dương lịch), như mọi khi, Cụ Trịnh Văn Bé (Hai Bé) vẫn là “thầy thai” cầm trống điều khiển cuộc chơi đố thai ở Miếu Thành Hoàng Bãi Xàu. Mới 9 giờ nhưng trước sân Miếu Thành Hoàng đã lu bu 7-8 người trong Bang hội Miếu lo dựng rạp, treo đèn, bài trí sân chơi. Cụ Hai Bé qua lại chỉ đạo một anh thanh niên dán lên tấm bảng những câu thai đã có đánh số. Một chú nhóc 12-13 tuổi cũng đang lui cui chép câu thai để chút nữa lên “Gú-gồ” tra cứu. Quãng 10 giờ, 25 câu thai đã dán xong, lai rai có người đến xem và bàn tán…. thai mới, thai cũ, thai ế”!? Câu thai nằm trên cùng ở góc trái bảng thai được nhiều “lão làng chơi thai” nhận định là “câu thai thủ đài” - cụ thể như sau: “Một con heo nái ủi giồng khoai. Thong thả miệt mài kiếm củ nhai. Quanh quẩn một hồi dường như chán. Phẩy đuôi về trại bị xỏ tai - Xuất vật dụng”. Câu này thuộc dạng “thai ế” bởi hơn chục năm nay chưa ai giải được? Thật vui khi tôi gặp lại câu đố mà ngày xưa tôi đã học qua hồi cấp 1: “Vừa bằng thằng bé lên ba. Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng”. Quà thưởng năm nay là 30 phần, đổ đồng mỗi phần quá là 3 gói mì, 5 cuốn tập, 2 cây viết big. Ai không nhận quà thì lấy 1 gói thuốc lá…. con mèo.
Cụ
Hai Bé tâm sự với tôi rằng “Ráng thêm 1 lần nữa cho vui xóm làng chớ bà
xã và sắp nhỏ cũng cằn nhằn quá”.
Đúng 19h, một hồi trống báo cuộc vui
Đố Thai bắt đầu. Khai mào đầu tiên với câu thai khó là “Ông Lầu Bầu”
Trịnh Văn Nhung với câu số 46 “Cảnh thế âu là cảnh tạm nương, cùng nhị
chiếc quán ở bên đường. Người đời là kẻ dừng chân tạm. Rồi lại lui về
nẻo viễn phương” - xuất bảng danh hiệu. “Ông Lầu Bầu” đưa đáp án là
khách sạn? Sai! Nhường người khác. Xôm tụ có lẽ là đám trẻ nít khi xúm
nhau vào câu thai “Ở dưới đít người ta mà đòi làm cha”? Những hồi trống
báo gần đúng cổ vũ cho các đáp án, nào là ghế ngồi, ghế dựa, ghế tre….
và cuối cùng đáp án ghế bố lãnh giải. Cái “lý” của câu này thiệt ngộ
“Thường xuyên ở dưới đít là cái ghế thì đúng rồi! Nhưng tên của cái ghế
này nó nằm ở chữ cha mà ngoài Bắc gọi là bố. Vậy thì vật dụng này đúng
là… cái ghế bố. Cái này kêu bằng “mượn văn” để gài vô trong kẹt”!
Có thể nhận định: Thai đố là hình thức đối vui, ngoài tính giải trí trong những dịp lễ tết, cúng đình… thì đây còn là một hình thức “Đố vui để học” đã có từ xưa. Thai đố không chỉ tập cho mọi người tham gia cuộc chơi phải có sự suy luận nhanh, biết nhìn sự vật, sự việc ở góc nhìn tổng quát kết hợp với phép liên tưởng cao thì mới hòng giải đúng câu đố. Quan trọng hơn cả là tính chất cố kết cộng đồng, làng-xóm, răn dạy điều hay, lẽ phải, biết nhường nhịn trẻ nhỏ, biết kính kẻ trên, nhường người dưới qua một hình thức giải trí vui nhộn. Ở góc độ văn hoá dân gian, không ít câu thai đã trở thành những câu ca dao, tục ngữ được lưu truyền, rồi không ít những câu ca dao, tục ngữ hiện diện trong những câu thai đã đem đến sức sống mới, sinh động hơn của những câu ca dao, tục ngữ từ lời ăn tiếng nói và cả cách suy luận của dân gian.… Chuyện này hẳn những người yêu thích trò chơi này đều biết và họ đều có chung nỗi lo lắng “Liệu rồi đây khi “ông thầy thai cuối cùng của đất Bãi Xàu đi rồi thì sao”!?
Cả miền Tây Nam bộ đến giờ này chắc chỉ còn đất Bãi Xàu là còn lưu giữ được nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của tiền nhân, nhưng để duy trì và phát huy loại hình sinh hoạt văn hoá độc đáo này thì rõ ràng - đây không thể chỉ là chuyện của một vài cá nhân đơn lẻ./.
Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013
Đố Thai – Vui vẻ xóm làng!!!
Kỳ 1: Đố thai – trò chơi nhưng là một sinh hoạt cộng đồng
Đố thai (hay thai đố) là hình thức trò chơi đưa ra những câu
đố để người đến chơi giải đáp. Nếu giải đáp đúng thì sẽ nhận được quà thưởng.
Mỗi câu thai không giới hạn số người trả lời, nhưng mỗi người chỉ được trả lời
3 lần. Mọi người cứ việc suy nghĩ và trả lời thoải mái cho đến khi đúng thì
thôi. Chơi đố thai là trò chơi khá phổ biến ở miền Tây Nam Bộ những năm đầu thế
kỷ XX. Điều này đã được nhà văn Sơn Nam ghi nhận qua truyện ngắn: Ngôi
mộ chôn đứng, Tình bậu muốn thôi, Câu thai đố…và ở công trình biên khảo Đồng
bằng sông Cửu Long-Nét sinh hoạt xưa. Thủa trước, đây là một trò chơi phổ biến
nhưng hiện nay có lẽ chỉ còn thi thoảng được tổ chức ở TT.Mỹ Xuyên, đất Bãi Xàu
xưa.
4 quy tắc để giải câu thai...
Trong quãng hơn 30
năm nay, người giữ vai trò “thầy thai” ở xứ này là Cụ Trịnh Văn Bé (Hai Bé),
năm nay đã ngoài 80 tuổi và vẫn còn rất minh mẫn. Có thể xem đây là “Ông thầy
thai cuối cùng của đất Bãi Xàu”. Nhà của Cụ ở số 87, đường Nguyễn Thái Học, ấp
Châu Thành, TT.Mỹ Xuyên.Dáng người nhỏ nhắn, tóc bạc phơ nhưng vô cuộc chơi,
ông luôn giữ vai trò cầm trống giữ nhịp, giải nghĩa, nhắc tuồng, gợi ý lời giải
cho người chơi với giọng nói sang sảng và lắm lúc thật hài hước…khiến người
chơi ôm bụng mà cười. Những câu thai được công bố phải đáp ứng những điều kiện
có tính chất quy tắc. Tùy theo phần “xuất” (tức là phần gợi ý) - người chơi sẽ
tìm phương hướng để giải nghĩa chữ, nghĩa câu, hoặc ẩn ý của sự kiện mà ra đáp
án cho đúng với đòi hỏi của câu thai. Ngoài phần “xuất” đưa ra phạm vi cụ thể
để người chơi tập trung vào chỉ một sự việc, sự vật cụ thể thì để giải được
những câu thai, người chơi còn phải chú ý đến 4 quy tắc của trò chơi này là
“tình, ý, lý (lý lẽ) và lái (nói lái). 4 quy tắc này cũng thường xuyên được ông
“Thầy Thai” nhắc đi nhắc lại trong cuộc chơi. Cụ Hai Bé lý giải:
-Có câu người ta dùng “nói lái” là “lái liền”, nhưng cũng có
câu người ta lại dùng “lái qua, lại lại” đến 2-3 lần. Tỷ dụ như câu “Cưỡi ngựa
phải có dây cương. Để vô thế trận biết đường mà ra”. Câu này xuất mộc-tức là
chỉ cái cây…nhưng mà cây gì cụ thể? Dây cương nói lái là dương cây…mà dương cây
“lái” lần nữa thì ra cây dương! Nhưng cũng có câu thì lại lái chữ cuối của câu
này với chữ đầu của câu kế. Tỷ dụ “Làm người thì phải thủ! Mùng một và 30 phải
cúng chùa”, xuất vật dụng. “Thủ” với “mùng” ráp lại lái ra thành…Cái “thùng
mủ”. Còn với ý thì “1 mẹ 4 con rành rành. Mẹ no con đói không đành lìa xa.
Khách đến chủ đứng tương phân. Mỗi con no đủ liền lìa mẹ ra”. Câu này cũng xuất
vật dụng, chỉ cái bình nước và 4 cái tách. Chuẩn bị đón khách, bình đầy nước
thì tách không có nước, 4 cái tách vẫn quây quần quanh cái bình. Khách tới rồi
“khách đến chủ đứng tương phân”, lật ly
lật tách ra rót nước mời khách. Vậy là chủ - khách cùng cầm tách thưởng trà….tách
phải rời bình. Ngoài ra còn có nguyên tắc “phạm văn”, tức là nếu những chữ gì
đã có trong câu thai thì không được có trong đáp án. Đó là câu “Anh em hoà hiệp
một nhà. Giúp cha mẹ già trong lúc ốm đau”, xuất danh hiệu. Câu trả lời đúng là
Thuận Thảo, tên môt hiệu tiệm ở Mỹ Xuyên. Dù ở Mỹ Xuyên có biển hiệu Hiệp Hoà
nhưng vì “phạm văn chữ hoà, chữ hiệp” nên không trúng. “Xuất” trong câu thai
chính là gợi ý đáp án để người chơi giải câu thai. Xuất có nhiều dạng: xuất vật
dụng – là đồ dùng hàng ngày; dược vị (bài thuốc), xuất mộc (cây), bỉnh (bánh),
danh nhân (người có tên tuổi cụ thể), nhân (người nói chung), xuất thú (loài
thú nói chung), tiểu thú (loài thú nhỏ), điểu (loài chim nói chung), rồi xuất
danh hiệu (bảng hiệu).v.v.
![]() |
| Cụ Hai Bé giữ nhịp trống trong cuộc chơi thai trong ngày rằm tháng tám (2013) |
Đa phần những câu thai đều thuộc dạng “văn vần-vè”,
phổ biến là kiểu lục bát, rồi cả câu đối, lắm khi lại là mẹo “dùng âm đọc của
tiếng nước ngoài”, rồi theo lối “tục giảng thanh”... Đây có lẽ là những câu đố
đem đến sự hào hứng, hoạt náo của của buổi chơi thai vì tính bất ngờ của đáp
án.
…và vào cuộc chơi thai đố
Thông thường, mỗi buổi chơi sẽ có 3 canh (canh đầu, canh
giữa, canh khuya). Canh đầu mở màn cho đêm chơi thai là những câu thai dễ,
tương ứng với phần thưởng là 2 gói mì gói, vài bịch kẹo hoặc gói thuốc lá….Mỗi
câu thai giải xong sẽ được gỡ xuống để dán lên câu thai khác. Khi những câu dễ
được giải xong non phân nửa thì các câu thai có cấp độ khó hơn dần xuất hiện và
sẽ dần dần thay thế hoàn toàn những câu thai của canh đầu. Canh khuy (quãng từ
9 đến 10 giờ đêm) thì hầu như chỉ còn lại những câu “thái ế”. Canh đầu thường
mở màn vào khoảng 19h chiều. Nam
thanh-nữ tú, trẻ con, người lớn nghe tiếng trống mà kéo đến xem câu thai, xúm
nhau bàn giải. Lắm khi lãnh giải lại là những người qua đường, thấy vui vui ghé
vô kiếm vài món quà thưởng hoặc gói thuốc cho vui.
Công đoạn xướng lời giải đều phải theo đúng nhịp nhàng, phép
tắc. Tức là phải theo tiếng trống của thầy thai. Bất kỳ ai muốn giải đố thì sau
khi đọc số câu thai, thầy thai đồng ý bằng một tiếng trống “tùng” thì bắt đầu
đọc nhưng phải đọc đúng nhịp điệu, đúng vần. Vì phần lớn câu thai là văn vần,
văn vè theo “kiểu lục bát” nên phải đọc cho đúng nhịp của cách đọc “lục bát”.
Chỉ được đọc tiếp khi thầy thai đệm một tiếng trống sau khi đọc dứt một câu.
Nếu đúng thì thầy thai sẽ thưởng bằng một hồi trống mà kết
thúc bằng tiếng gõ “xèng” thật lớn. Tùng..tùng…tùng….xèng. cả đám chơi òa lên
những tiếng khen, tiếng cười của người giải đúng và tiếng xướng phần thưởng là
cái gì. Còn nếu lời giải gần đúng thì hồi trống sẽ không có tiềng “xèng”…mà chỉ
có tiếng gõ vào tang trống “cắc” như thở dài tiếc nuối. Tùy theo mức độ gần
trúng bao nhiêu mà tiếng trống có thể là 1 hoặc là 2 hoặc 3…hoặc 1 hồi trống
với những tiếng trống càng gần cuối càng nhỏ dần và thưa nhịp. Nếu chỉ có 3
tiếng gõ vào tang “cắc..cắc…cắc” thì kể như là ..đã trật lất. Còn nếu chỉ một
tiếng “cắc” thì phải ngầm hiểu…đó là thầy thai đang chê. Tiếng “cắc” này chính
là tiếng “gõ vô đầu”. Thông thường thì bọn trẻ nít hay bị “gõ vô đầu” nhiều
nhất vì…thường xuyên giải trật. Còn nếu ai mới chỉ đọc lời thai câu đầu tiên mà
đã bị thầy thai gõ cái “cóc” thì kể như phải đọc lại từ đầu cho đúng vần điệu,
nhịp nhàng. Đọc sai ba lần thì phải nhường lại cho người khác. Nhưng “Ông thầy
thai” cũng lắm khi “dụ khị” người chơi bằng những hồi trống kiểu càng gần cuối
càng nhỏ dần và thưa nhịp với ý nhắc nhở “gần đúng”…dù câu trả lời đang đi khá xa với đáp án. Thường thì những
hồi trống kiểu này nhằm làm cho cuộc chơi thêm sôi động hoặc giả để “làm tươi”
cuộc chơi thai đang hồi trầm lắng. Cái “vụ này” dân chơi thai kêu bằng…”nuôi
thai”!?
Qua tìm hiểu ở một số vị vốn là dân cố cựu ở TT.Mỹ Xuyên,
rất am hiểu và mê đố thai thì có thể khẳng định: đây là một sinh hoạt văn hoá
dân gian có tính chất cộng đồng đã có từ lâu ở xứ này. Mỗi buổi chơi đố thai
không chỉ mang tính chất đem lại một sự kiện sinh hoạt giải trí cho xóm làng mà
còn thông qua những câu thai, cách dẫn dắt, gợi mở đáp án của thầy thai còn đem
đến những giá trị nhất định đối với cộng đồng về việc phải tuân thủ những quy
tắc, luật lệ…những lời khuyên răn về lẽ ở đời sao cho phải. Ông Tô Thanh Bình
(cán bộ hưu trí) nhớ lại thời ông còn “trẻ nít” “Từ cái thời TT.Mỹ Xuyên còn
gọi là Bãi Xàu thì mỗi khi đến rằm hay cúng đình (kỳ yên), cúng miễu là đám con
nít tụi tui đã đón canh tiếng trống tùng tùng nhịp hai là biết có đối thai.
Ráng ăn cơm sớm để vọt đi giải đố, kiếm chút quà”. Năm nay (2013), cuộc chơi đố
thai được tổ chức tại Miễu Thành Hoàng Mỹ Xuyên ngay rằm Trung Thu (19/9/2013
dương lịch).
Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013
Ngược lên...Giồng Đá - Xuân Hoà
Xuân
Hoà lâu nay vốn nổi danh là một vùng “đất vườn” nức tiếng không chỉ
riêng ở huyện Kế Sách. Bến sông Xuân Hoà cách đây không lâu còn là 1 chợ
nổi bán buôn trái cây nhộn nhịp mỗi khi vô mùa trái chín. Mỗi khi vô
mùa, hàng trăm ghe xuồng ken dày bến sông chờ lên hàng xuôi về các chợ
đầu mối.
Đường
về miệt vườn Xuân Hoà giờ đã dễ đi, dù là ngược từ hướng Kế Sách lên
hay từ tuyến đường Nam sông Hậu rẽ vô! Những mảnh vườn cây ăn trái nối
nhau trải dài dọc theo con đường quê giờ đã lót đal bằng phẳng, ấp liền
ấp. Ven bờ kênh, ẩn hiện dưới tàn lá rợp mát là những căn nhà xinh
xắn…nhà lá, nhà tường đủ cả. Tháng 5, trời nắng như đổ lửa… nhưng trên
con đường làng, lữ khách vẫn thoải mái dạo chơi dưới bóng mát của những
tàn cây rợp mát, thả hồn mình trong tiếng ve mùa hạ.
Miếu Thổ thần và bức ảnh thời… kỹ thuật số
Rong ruổi theo những con kênh, bờ đập ở Xuân Hoà, chúng được nghe 1 câu chuyện vui về những cái miếu thổ thần ở Xuân Hoà. Ngay đầu bờ đập 5 Riềng, dọc theo con rạch Tây Phương là những miếu thờ thổ thần được đặt ở ngay mỗi đầu ranh đất. Thuở trước đất rộng, người khẩn hoang chỉ cần bỏ công sức khai phá… tới chừng cảm thấy mảnh đất của mình đã vừa đủ sức làm thì đánh dấu ranh đất của mình bằng cách cất 1 miếu thổ thần ngay đầu ranh đất. Mọi người tin rằng, vị thổ thần không chỉ làm chứng cho công sức khai khẩn mà còn giúp cho người chủ đất sản xuất trúng mùa, cây trái xanh tươi. Giai thoại về vị thổ thần ở vùng đất này cũng là một giai thoại vui, giản dị và chân tình như tấm lòng của người miệt vườn vậy. Bên ly “trà quạu”, lão nông cố cựu Năm Riềng (Trần Văn Riềng), năm nay đã 69 tuổi ở ấp Hoà Phú vui vẻ giải thích cùng chúng tôi về chuyện tại sao thổ thần chỉ ở đầu doi, đầu bãi chớ không được vô nhà:
- Theo ông bà mình kể lại thì mọi chuyện đều bắt đầu từ ông học trò khó. Lúc còn nghèo chuẩn bị lên kinh ứng thí tay ôm tay xách giỏ qua cầu, vừa đi vừa cạp miếng dưa mà người ta cho. Bước xuống cầu thì lật đật làm sao đó để rớt miếng dưa. Thổ thần khi ấy đang gác cầu liền mắng “Thằng hư! Đã nghèo rớt mà có miếng ăn còn hổng biết giữ”. Chuyến ấy học trò khó thi đậu điểm cao được triều đình bổ về làm quan. Làng liền mở tiệc “Vinh quy bái tổ” cho quan trạng. Trong lúc ăn tiệc quan trạng gắp và làm rớt miếng thịt heo… nhưng miếng thịt chỉ rớt tới ngang lưng thì không rớt xuống nữa? Hoá ra là thổ thần đứng kế bên “Quan trạng làm rớt thì có em đỡ”. Quan trạng bèn mắng thổ thần “Cái thằng này đúng là “chúa nịnh”! Lúc quan còn là “học trò khó” thì hở một chút là nó mắng, chửi… tới chừng làm quan thì đi đâu nó cũng kè kè để “bợ đỡ”. Cái thứ này từ giờ trở đi chỉ cho nó ở đầu doi, đầu bãi chớ dứt khoát hổng cho vô nhà…”….
Câu chuyện vui, pha chút hài nhưng đậm tính nhân văn và chen vào đó là cả một bài học về lẽ sống của người Nam bộ. Dù những chiếc miếu thổ thần chỉ đặt ở đầu doi, đầu bãi nhưng mỗi khi ở nhà có đám tiệc, cúng qoải… gia chủ cũng không bao giờ quên phần của thổ thần. Thổ thần cũng chẳng đòi hỏi gì nhiều… nhà còn khó thì thần ở trong cái miểu tre lá đơn sơ, nhà khá giá thì xây tường thần cũng chịu. Vật phẩm cúng tế thần cũng chẳng đòi hỏi, điều mà thổ thần cần chính là tấm lòng của gia chủ.
Cách
đặt tên, gọi tên những con rạch, bờ đập ở xứ này cũng giản dị, trực
quan, dễ nhớ. Con rạch có tên Tây Phương mới nghe cứ tưởng như gắn liền
với truyền thuyết về con đường thỉnh kinh của thầy trò Đường Tăng - Tôn
Ngộ Không? Nhưng thực ra chẳng phải vậy. Thực ra là khi xưa, ở hai bên
bờ rạch có 2 ông chủ đất tên là Tây và Phương. 2 ông sau này kết thông
gia và con cháu của họ đã góp phần không nhỏ để mở mang vùng đất 2 bên
con rạch này nên cư dân trong vùng lấy tên 2 ông đặt luôn cho con rạch
để dễ nhớ. Còn bây giờ thì bờ đập ở đầu con rạch này được gọi là rạch “5
Riềng” - chính là tên của lão nông Trần Văn Riềng!
Hoá
ra cách đặt tên địa danh ở xứ này cho tới bây giờ vẫn mang đậm dấu ấn
của “ông bà xưa” thời mở đất! Mà có sao đâu? Nó gần gũi, dễ nhớ và thấm
đẫm tình làng nghĩa xóm. Với tôi thì cách đặt tên địa danh này có phần
còn hơn cách lựa chọn “chữ nghĩa cao siêu” nhưng khó hiểu như kiểu ghép
thêm chữ tân, chữ lộc, chữ gì gì đó… với nhau để rồi chỉ có những bậc
“túc nho” ngồi luận chữ với nhau. Qua những câu chuyện từ ông Năm Riềng
kể, chúng tôi cũng biết rằng đất Xuân Hoà trong kháng chiến chống Mỹ
cũng là 1 vùng căn cứ chịu nhiều bom đạn cày xới. Đồn giặc đóng ken dày
để thực hiện thủ đoạn “tát dân ra khỏi vùng căn cứ”. Những đoàn cán bộ
của Khu 8, Khu 9, của tỉnh Sóc Trăng vẫn thường xuyên qua lại vùng này,
nhiều cơ quan đã đóng quân ở đây trong những giai đoạn ác liệt của cuộc
chiến tranh chống Mỹ. Tôi đã gặp lại chị - nghệ sĩ nhiếp ảnh Linh Phượng
và dấu ấn của chồng chị - nghệ sĩ nhiếp ảnh Lý Wày - qua 2 bức ảnh mà
gia đình ông Năm giờ đã lưu giữ như kỷ vật quý của thời chiến.
Những
bức ảnh này được chụp bởi nghệ sĩ nhiếp ảnh Lý Wày vào năm 1971 và chị
Linh Phượng đã trao lại cho gia đình vào năm 2000 trong 1 lần về thăm
lại chiến trường xưa. Bức ảnh thứ nhất - ông Năm khi ấy là cán bộ tuyên
huấn xã Xuân Hoà chụp cùng với Đội Văn công xung kích. Trong bức ảnh này
ông Năm là người đứng thứ 2 tính từ bên trái qua, còn chị Linh Phượng
ngồi ở vị trí thứ 2-tính từ bên phải qua. Bức ảnh thứ 2 ông Năm đứng ở
vị trí bìa trái, còn người đứng ở bìa phải là anh Hai của chú - liệt sĩ
Trần Văn Hội. Chính từ bức ảnh này mà hiện giờ đã có thêm tấm hình 2 anh
em cùng đứng chung nhau trong 1 phong cảnh thật nên thơ, yên bình ở Đà
Lạt. Bức ảnh này được các con của ông thuê thợ ghép lại vào năm 2008,
khi kỹ thuật xử lý ảnh số đã trở nên thịnh hành.
Từ Bác vật Lang đến khúc xương cọp, bộ xương voi…
Về Xuân Hoà hôm nay, hẳn không ít người sẽ bất ngờ khi được biết rằng vùng đất này ngày xưa vốn là vùng đất “mê địa” với những vạt rừng tràm, rừng chồi, lau -chấp mọc dày, thi thoảng mới có 1 giải đất giồng nhỏ. Dải đất ven bờ hữu ngạn Hậu Giang mà. Dưới triều vua Thiệu Trị, Xuân Hoà mới chỉ là 1 thôn thuộc tổng Định Khánh, huyện Vĩnh Định, phủ Ba Xuyên, tỉnh An Giang. Được chính thức gọi là làng Xuân Hoà từ ngày 05/01/1876, đổi thuộc hạt Sóc Trăng.
Về Xuân Hoà hôm nay, hẳn không ít người sẽ bất ngờ khi được biết rằng vùng đất này ngày xưa vốn là vùng đất “mê địa” với những vạt rừng tràm, rừng chồi, lau -chấp mọc dày, thi thoảng mới có 1 giải đất giồng nhỏ. Dải đất ven bờ hữu ngạn Hậu Giang mà. Dưới triều vua Thiệu Trị, Xuân Hoà mới chỉ là 1 thôn thuộc tổng Định Khánh, huyện Vĩnh Định, phủ Ba Xuyên, tỉnh An Giang. Được chính thức gọi là làng Xuân Hoà từ ngày 05/01/1876, đổi thuộc hạt Sóc Trăng.
Những cư dân đầu tiên đến khai phá vùng đất này khi ấy vừa phải chiến đấu với muỗi mòng, rắn rít để khẩn hoang, vừa phải canh chừng thú dữ. Những câu chuyện ly kỳ thời mở đất, những chuyện xưa - tích cũ nay cứ như là huyền thoại vẫn còn in đậm trong tâm trí của những bậc cao niên ở xứ này. Cụ Nguyễn Hùng Cường (86 tuổi) cũng ở Hoà Phú hào hứng kể lại cùng chúng tôi câu chuyện dựng nhà sàn trong rừng để khai mở đất. Người lớn đi làm thì rào lại sàn cao để phòng tránh cọp. Con rạch Giồng Đá hình thành là do voi đi. Phần xương của con voi chế hiện vẫn còn lưu giữ ở chùa Gồng Đá.
- Bà nội tui kể rằng thời bà nội tui còn nhỏ thì nhà của ông cố là nhà sàn cất trên cọc tràm lớn, ngoài hàng rào thì cửa nẻo đều làm song chắn để ngăn con nít leo xuống khi người lớn đi ruộng hòng ngăn cọp. Ông bà cố tui khi đó đi ruộng là phải cột bà nội lại ở trong nhà. Mà cất nhà hồi xưa ở xứ này thì cất nhà sàn tì chỉ ước chừng chớ hổng có lấy thước đo. Ông bà mình tin rằng nếu đo bằng thước thì “ông ba mươi” (cọp-PV) ổng biết ổng canh…ổng nhảy lên tới. Còn chuyện Bác vật Lang tới đây đào đồ cổ ở Giồng Đá thì lớp tụi tui còn biết, còn nhớ. Khi đó con rạch Giồng Đá còn nhỏ xíu và cạn xìu. Tàu Tây phải đậu ở ngoài đầu vàm Cái Cau và đi ca-nô vô. Nghe đâu họ đào và lấy được 1 bàn tay phật bằng đá tím, rồi vàng dây, rồi 1 nải chuối bằng vàng?…
… và ước nguyện chưa thành của trụ trì Thiên Phước Cổ Tự.
Con rạch Giồng Đá hiện nay đã lớn hơn con rạch ngày trước nhiều vì đã trải qua nhiều lần nạo vét bằng cơ giới. Nằm bên con rạch là Thiên Phước Cổ Tự mà người dân ở đây vẫn quen gọi là chùa Giồng Đá. Chùa được xây dựng trước năm 1880, khai sáng bởi Hoà Thượng Thích Thiên Nhựt và đến nay đã trải qua 6 đời trụ trì. Trải qua 2 thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc, ngôi chùa này là cơ sở của nhiều cơ quan thuộc Khu 8, Khu 9, đặc biệt là công việc in ấn tài liệu. Vào lúc cao điểm, có ngày các chị, các cô đã xay tới 5-7 giạ bột để phục vụ cho việc in ấn. Tấm huy chương kháng chiến hạng nhất do Chủ tịch nước trao tặng nhà chùa được treo trang trọng đã nói lên tất cả.
Trụ trì Thiên Phước Cổ Tự hiện nay là Hoà thượng Thích Trí Phát. Ông dẫn chúng tôi ra địa điểm mà vào những năm 30 của thế kỷ trước, bác vật Lưu Văn Lang và đoàn khảo sát của Viện Viễn Đông Bác Cổ đã khai quật ở đây. Cho đến bây giờ, chúng tôi vẫn chưa tìm được tài liệu nào mô tả chi tiết về chuyến khảo cổ này nhưng theo các bậc cao niên ở đây kể lại mà Hoà thượng Thích Trí Phát ghi chép lại thì 2 hiện vật quý giá nhất mà họ đã mang đi là 1 bàn tay phật tạc bằng đá tím và 1 chiếc búa được đúc bằng vàng hoặc bằng đồng? Ở ngay địa điểm hố khai quật này, Hoà thượng Thích Trí Phát đã có mở rộng đôi chút. Ông dự định nếu sau này có dịp, sẽ dựng ở đây 1 nhà thuỷ tạ và cũng là điểm để trưng bày những hiện vật xưa, quý hiếm, minh chứng cho 1 thời mở đất gian khó của cha ông thửa mới đến khẩn hoang, lập làng mà nhà chùa còn giữ được.
Chúng tôi càng tin tưởng hơn khi Hoà thượng Trí Phát “hé lộ” đôi chút về kho tàng mà ông đang lưu giữ. Đó là những mảnh xương cọp, gạc nai, xương voi và 2 nồi đất cổ. Những mảnh của bộ xương voi còn giữ lại được là hơn 20 đốt xương sống, xương ống, xương bẹ…do đám trẻ nít ở đây nhặt được và đem đến vào 1 đợt nạo vét rạch Giồng Đá trong những năm 80-90. Mảnh gạc nai vẫn còn nguyên dáng và có vẻ như đã hoá thạch? Còn 1 đốt xương mà Hoà Thượng Trí Phát tin chắc là xương ống trước của “tay cọp”… Ông kể về “cái duyên” của ông với đoạn xương này trong tâm thế thật hứng khởi:
- Trong lúc làm cỏ trong khuôn viên thì thầy gặp 1 bụi cỏ khá lớn mà rễ ăn khá sâu. Mình chặt thì rồi nó cũng lên tiếp nên thôi thì đào rễ nó luôn. Vậy là đụng phải 1 khúc đen đen giống như khúc cây mà hổng phải? Nghi ngờ nên thầy mang nó xuống mé rạch rửa…càng rửa thì càng thấy lạ, càng khẳng định nó là 1 khúc xương. Đem vô cất và phải mất 1 thời gian dài nghiên cứu thì mới ngộ ra được đây là 1 khúc xương cọp bởi đặc thù của 2 lỗ thông nhau ở khớp. 1 dấu chỉ phải có trong bộ xương ống “tay cọp” mà những người nấu cao hổ cốt đã đúc kết.
Thủa trước ở xứ này có nai, có cọp, có voi càng có căn cứ hơn vì chính ông nội của thầy từng kể rằng: hồi những năm 30, cứ vào tháng tháng 8, tháng 9 âm lịch là vạn săn ở vùng Mang Cá, Phụng Hiệp thường mở đợt săn nai…lúc này người dân ở vùng này vẫn còn đón bắt được những con nai chạy dạt ra tới đây. Thầy cũng đã đọc được tài liệu nói rằng - những năm 20-30 của thế kỷ trước (XX-PV), vùng Phụng Hiệp, Ngã Bảy còn là cánh đồng đầy lau sậy với voi đi hàng đàn.
Ông còn cho chúng tôi chiêm ngưỡng 2 nồi đất rất xưa cũng được lấy lên từ rạch Giồng Đá. 1 chiếc đã mẻ 1 phần ở vành miệng có nhiều mảng đã đen sạm, 1 chiếc còn nguyên màu trắng. Ông suy đoán: “Coi bộ 2 cái nồi đất này thì 1 cái đã dùng để nấu nướng còn 1 cái thì chưa”? Cũng vui vui với suy đoán này vì ông đâu phải là 1 nhà khảo cổ?! Ngoài những mảnh xương voi, xương cọp, gạc nai cùng 2 hiện vật gốm mà chúng tôi cho rằng có niên đại từ nền văn hoá Óc Eo, Thiên Phước cổ tự vẫn còn khá nhiều hiện vật khác mà Hoà thượng Thích Trí Phát đã bỏ công sưu tầm là: những bộ vòng gặt đủ kiểu, các kiểu dao phát cỏ, lưỡi cày.v.v… Tin rằng chỉ trong thời gian gần đây thôi, ước nguyện giản dị nhưng cũng rất thiết thực của ông là sẽ lập được 1 chỗ để lưu giữ những hiện vật của một thời “mở đất, khẩn hoang ở thôn Xuân Hoà và vùng phụ cận” trở thành hiện hiện thực.
Những câu chuyện hấp dẫn của miệt đất vườn Xuân Hoà vẫn còn nhiều, nhiều lắm. Những ai muốn khám phá về một thời mở đất của cha ông, mục kích những hiện vật, những bằng chứng sống động của một thời mở đất hào hùng hiện vẫn còn được người Xuân Hoà lưu giữ qua những câu chuyện kể, những hiện vật, những di tích cụ thể thì hãy dành thời gian để ngược lên Xuân Hoà, một vùng quê yên bình bên bờ Hậu Giang thơ mộng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



