Thứ Hai, 24 tháng 1, 2011

Bồng bềnh cùng sông nước Ngã Bảy








Đậm dấu ấn trong tôi vẫn là hình dáng của cô gái đã làm siêu lòng chàng trai bán chiếu qua giọng ca của cố nghệ sĩ Út Trà Ôn. Tất nhiên chủ đích của tôi không phải đi tìm cô gái ấy (chắc bây giờ tôi phải gọi bằng bà) mà cái chính là cái tình nghĩa, cái không khí chân tình của một thị tứ nam bộ xưa trong câu hát ấy đã níu kéo tôi bồng bềnh cùng sông nước Ngã Bảy.


Chợ Ngã bảy nằm ở điểm hội tụ của bảy ngã kênh đổ về trong công cuộc khai thác đất nam bộ khi xưa. Khác với miệt vườn ở vùng trên, miệt dưới Hậu Giang vốn lung, trũng lắm phèn nên muốn khai phá thì thủy lợi là ưu tiên hàng đầu. Chính vậy mới hình thành nên chợ Ngã Bảy, một loại chợ đặc thù của sông nước nam bộ! Mọi chuyện bán buôn, sinh hoạt chính đều ở trên ghe…ghe lớn, ghe nhỏ, xuồng năm lá, xuồng ba lá lên hàng, xuống hàng suốt từ khi trời đâm mây ngang cho đến sáng bửng thì coi như tan chợ. Ghe đi bổ hàng thì đổ về các nẻo kênh, xẻo nhỏ, còn ghe lớn thì đậu đó giải lao để chờ dỡ đủ hàng để đi tiếp về các chợ xa, về những nơi hàng thiếu. Mà thời đó thì chuyện “đi -đến, bổ hàng, giao hàng đều theo mùa, theo kinh nghiệm, theo mối thân quen hẹn trước” chớ phải nào như bây giờ chỉ cần móc điện thoại di động “một cái rẹt” là xong!
Thì cũng phải thôi! Gần 100 năm rồi còn gì.

Cũng như bao chợ ở các bến sông khác. Chợ Ngã Bảy đóng vai trò của một chợ đầu mối sỉ - lẻ dạng “bách hóa” thứ gì cũng có. Những đó là ngã bảy chợ trên bờ, con dưới sông thì chuyên trị hàng nông sản, cây trái được bán - mua theo phương thức đậm đặc chất nam bộ “mùa nào trái nấy. Bán gì cũng bán – mua gì cũng mua” bởi lẽ, chỉ có những khách thương hồ mới biết được ở đâu đang cần cái gì? Mua cái gì chở đi thì bán được. Đơn giản vậy thôi. Mùa nước lũ đầu mùa miệt trên thiếu rau xanh, bầu bí…xuống Ngã Bảy bổ hàng về bán. Mùa chôm chôm, măng cụt, mận…xuống Ngã Bảy. Đi một chuyến phải cho đáng nên phải lựa ghe cỡ nào đi cho có lời, đáng một chuyến! Đại khái về chợ nổi là như vậy!?

Ngã Bảy giờ đã nâng tầm lên thị xã nên một số con đường trong khu vực chợ đang được nâng cấp. Hàng hóa bày bán ở đây chủ yếu là hàng may mặc, máy nông - ngư – cơ, vài tiệm vàng có vẻ vắng bóng khách trong thời “giá vàng đang nhảy dít-cô”. Khu trung tâm thương mại đối diện nhà lồng chợ có vẻ ếm ẩm không được mấy gian hàng giày dép, nón mũ. Hơn nửa khu buổi sáng dùng làm nơi bán đồ ăn sáng, bán nước giải khát và một phần làm chỗ giữ xe. Tân – chủ một gian hàng ở chợ chia sẻ cùng tôi về cái không khí này: “Đường sông thông suốt lên Sài Gòn, Cần Thơ nên nếu cần khối lượng hàng lớn thì những người buôn bán lấy trực tiếp ở trên rồi chuyển thẳng về các chợ nhỏ thì lời hơn. Xe cộ, đường sá bây giờ đi dễ nên họ không lấy ở đây nhiều trừ khi kẹt hàng gấp”.

Cặp theo mé kênh về Lái Hiếu (một trong 7 ngã kênh), trước cửa chợ Ngã Bảy bán hàng thực phẩm và rau cải. Con đường chạy trước nhà lồng chợ đang được tu sửa, trải nhựa, lên lề. Cặp theo bờ sông ngả chạy ra vàm Cái Côn đã kín nhà lầu của các chủ hiệu buôn. Riêng cặp theo mé bờ kinh xuôi về Lái Hiếu, *Búng Tàu…thì vẫn còn chừa lối đi ven sông và được kè đá. Có vẻ như đây vẫm còn giữ được đôi chút của “ngã bảy chợ xưa” với ghe, xuồng và võ lãi các loại đậu cặp bờ kèn dày. Hàng mà các ghe bổ đi cũng chủ yếu là các loại rau màu, thực phẩm. Đông nhất là quãng từ 5 giờ sáng cho đến tầm non 9 giờ thì thưa hẳn. Lời ăn tiếng nói ở khu chợ này vẫn đậm nét quê xưa làm lữ khách bâng khuâng. Chị Tám Tân ở khúc giữa ngả Lái Hiếu mắc cỡ khi tôi cứ rê máy ảnh bám theo cái dáng người mảnh khảnh của chị khi dỡ hàng xuống ghe. Ghe của chị đang xuống bắp cải, tần ô và 20 kg thịt heo. “Lời lóm bi nhiêu chú ơi. Xong mùa thì tranh thủ chạy chợ kiếm thêm chút đỉnh vậy mà”. Với chị, nghề thương hồ là nghề tay trái nhưng cũng sống được.

Ngay đầu vàm về *Búng Tàu, hai chiếc ghe hàng “lỡ” (ghe chở từ khoảng 2 đến 4 tấn đậu song đôi cũng trương bẹo nhỏ xíu mà mắt thường nhìn không ra. Chị Điệp, một chủ đò dọc đưa rước khách tham quan chợ nổi (thực ra chỉ là chiếc ghe nhỏ có sắp 3 hàng sạp, chở được khoảng 6 người) thấy tôi và chiếc máy ảnh đang loay hoay đã sẵn sàng giúp đỡ: “bẹo đó là trái khóm. Treo bữa rày chắc héo queo rồi. Còn chiếc kế bên đang lên chuối già. Nếu muốn đi chợ nổi thì sáng mai cỡ 5 giờ rưỡi ra đây tui chở đi. Chợ nổi giờ dời lên trên vàm ba ngàn”.

Chợ nổi phải dời lên trên vàm ba ngàn (ngả Cái Côn – cách nơi cũ độ non 3 cây số) cách đây cũng đã 4-5 năm. So với chợ cũ thì mật độ ghe, xuồng bán buôn ở đây chẳng còn mấy. Sáng sớm ngày 10/01/2011, tôi đếm được ở đây chỉ có khoảng 50 ghe, võ lãi lên hàng, xuống hàng, trong đó chỉ có 5 chiếc ghe hàng lớn đậu riêng ngay đầu vàm ba ngàn với “bẹo hàng” là củ sắn, cà rốt, khóm và bắp. Chị Điệp tấp ghe vô tôi mới biết…ngoài chuyện bán thì các ghe cũng mua luôn hàng mà mình cần khi chiếc ghe bìa đang lên dưa hấu. Vẫn với cung cách thuận mua, vừa bán. Dãy ghe mé bên ấp Cái Côn có vẻ sung túc, nhộn nhịp hơn với mặt hàng trái cây và rau cải.

Nhảy lên chiếc ghe có số hiệu HG.1472 đang lên hàng mít trái làm vài tấm ảnh quang cảnh sinh hoạt của chợ nổi. Tiến – chủ ghe vui vẻ nói: “Em ở ngay thị trấn Ngã năm chớ đâu. Nhưng làm ghe đăng ký biển số Hậu Giang để đi cho tiện. Mùa này lên đây cân mít để chở xuống Cà Mau. Giá mùa này em thu vô 3.000đ/kg. Chở đi bỏ cho mấy mối ở mấy chợ phía dưới mùa này là hàng hiếm đó”.

Hai chiếc ghe nhỏ bán bún, mì, bánh canh giò heo len lỏi giữa hàng xuồng, ghe, võ lãi. Những tô bún, tô mì bốc khói trên sông nước se lạnh của cái lạnh cuối mùa chướng ở đất nam bộ đem lại cho tôi một cảm giác thật khó tả…vừa gần gũi, vừa ấm áp như cái thời năm 1976 tôi và gia đình mới ở Xuân Mai về Vị Thanh vậy!? Dì Bảy ở cạnh ba ngàn cũng vừa chở ra hơn 20 chục cái cà ràng đỏ au đang tìm mối bán. Hôm nay coi bộ “hổng khá” khi đã đảo suốt 4 vòng chèo ở cả hai bên vàm sông mà dì vẫn chưa bán được cái nào. Phải mà. Ghe đi xa thì đã xài bếp gar, còn những ghe ở gần thì ở nhà chắc cũng vậy. Còn nước thì xài nước lọc đóng bình săn chở theo hàng lố…Coi bộ cái thời của khách thương hồ “gạo chợ - nước sông” đã tới!? ngay như chị Điệp – người chở tôi tham quan chợ này giờ thì may mắn lắm mỗi ngày mới có một hai chuyến. Mà khách vài ba năm nay chủ yếu là khách ta như Việt Kiều về thăm quê, nhà báo chớ khách du lịch đi thành đoàn hay những ông, bà tây “ba lô” hầu như vắng hẳn. Cái hồ của “trên bến – dưới thuyền” của chợ nổi Ngã Bảy không còn đã không còn kéo được du khách về đây.

Hai ngày lang thang và bồng bềnh cùng sông nước Ngã Bảy tôi ngộ ra rằng, Ngã Bảy chợ vẫn còn mang đậm nét của một chợ quê. Từ cung cách bán buôn cho đến sinh hoạt của người ra chợ đều rặt ròng theo thói quen là chính. Mà muốn thay đổi một thói quen đã trở thành “tập quán” thì không phải là chuyện “một ngày - một bữa” như chuyện cứ xây một cái nhà lồng chợ cho lớn rồi đặt tên cho nó. Cái chính là nó có thực đáp ứng được nhu cầu của của đa phần người dân trong vùng hay không? Mà muốn trọn vẹn cả đôi đường cho chợ trên bờ, chợ dưới sông và để cả hai cái chợ này sống hài hòa, tôn thêm vẻ đẹp và thể hiện được thực chất của nó thì còn rất nhiều việc phải làm. Chỉ tính riêng chuyện dọc theo các bờ kè giờ đã được bê-tông hóa với nhà cao tầng, đường đi sập sệ cũng đã là một bài toán đau đầu, rồi đến chuyện “quen tay sả rác” cũng vậy. Trong khi đây mới chỉ là những chuyện nhỏ, chưa tính đến những chuyện lớn như quy hoạch hợp lý, định hướng phát triển .v.v và .v.v.

Nhớ lại lần trò chuyện cùng một cán bộ văn hóa ở Hậu Giang, anh đã nói rằng “Thương hiệu Ngã Bảy có từ cả trăm năm nay đã không được khai thác đúng mức”? Tại sao ư? Tất cả bắt đầu từ chuyện dời chợ nổi, trong khi vấn đề chính thực chất không phải là chuyện giao thông đường thủy đã quá chật hẹp (chỗ này thì có thể nhận định rằng “bác giao thông đường thủy không cùng chung quan điểm với bác “du lịch”). Kế đến là chuyện ỷ y..từ Cần Thơ xuống, Sóc Trăng lên khoảng 30 cây số thì không cần đầu tư hạ tầng phục vụ du khách tại đây. Với riêng tôi thì cảm nhận là có vẻ đúng bởi lẽ, linh hồn của chợ nổi Ngã Bảy không phải là quãng nắng đã lên mà là ở phiên chợ sớm khi trời vừa “đâm may ngang”, cái bản sắc của Ngã Bảy đậm chất nam bộ chính là ở chỗ này. Du khách không phải đến chỉ để nhìn mà họ có nhu cầu hiểu rõ và sống trong bối cảnh, không khí văn hóa của vùng đất mà họ muốn tìm hiểu. Du lịch ở đây thuộc về phần “hồn” chứ không phải là phần “xác”. So sánh với những chợ nổi khác, Ngã Bảy đậm đặc “hồn vía” của một thời mở đất xưa hơn các chợ nổi khác.

Chợ sớm, sương vẫn còn giăng giăng đầy mặt sông. Tiếng ghe xuồng lộc cộc chạm nhau, tiếng trả giá, mặc cả rộn cả một khúc sông vắng. bên bờ kênh này chỉ có một quán bán nước nhưng lại..không bán cà-phê đen mà chỉ bán cà-phê đá và cà-phê sữa. Ngồi bên bến sông ngắm cảnh bán buôn mà không khỏi chút chạnh lòng. Lại lẫm bẩm câu hát xưa “ghe chiếu Cà Mau cắm sào bên dòng kênh Ngã Bảy. Sao cô gái năm xưa không thấy ra chào…”.

Mà phải rồi! Thời này người ta quen xài chiếu nhựa, giường nệm…hiếm người xài chiếu lác nên hàng không có người mua là phải. Cũng ngặt một cái ở thời buổi kim tiền này, hàng không phải là hàng “hot” thì phải là hàng độc mới có người mua. Ơ hay? Vậy chiếu lác không phải “hàng độc” à? Cũng phải có chợ Ngã Bảy mới có anh bán chiếu chớ!?

*Búng có nghĩa: Một hồ nước tự nhiên dọc theo một con sông tự nhiên, một hũm nước lớn bắt nguồn từ một con sông. Búng Bình Thiên ở An Giang. Búng ở đây không phải là bún, cọng bún. Búng Tàu – khu vực búng có nhiều người Hoa (người Tàu) sinh sống. (NV).

Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

Sóc Trăng – Tết này đã có người “cho chữ”



Thật ra đó chỉ là một hoạt động của Câu Lạc Bộ thư pháp Sóc Trăng vừa được chính thức thành lập vào ngày 12/09/2010 vừa qua. Nếu điểm qua các tỉnh ở ĐBSCL thì có lẽ, Sóc Trăng là địa phương có phong trào học và thực hành thư pháp nhộn nhịp nhất từ nhiều năm nay.

“Bản doanh” Quán thư pháp của CLB hiện nay được đặt ngay tại khuôn viên của khu di tích lịch sử quốc gia Trường Taberd tại số 19 Tôn Đức Thắng, phường 6, TP Sóc Trăng, nơi đã đón đoàn tù chính trị từ Côn Đảo trở về đất liền ngày 23/9/1945. Ban chủ nhiệm gồm 9 người do thầy Vương Ấu Xuyên hiện là hiệu trưởng Trường THCS Dục Anh làm chủ nhiệm.

Tại đây, ngoài phòng trưng bày, giới thiệu các bức thư pháp do các thành viên của CLB thực hiện, cứ mỗi chiều thứ 7 và chủ nhật hàng tuần là hội viện lại tụ hội để rèn chữ, trao đổi kinh nghiệm và nhờ các “sư huynh, sư phụ” nhận xét cho nét chữ của mình.
Nhìn hàng ghế, bàn dài bày trước hiên căn nhà cổ…già có, trẻ có và điều làm tôi ngạc nhiên nhất là những 8X, 9X rất moden cũng cặm cụi gò từng nét chữ. Yến Lam, một sinh viên ngành tin học (ĐH Cần Thơ) vừa ra trường cũng vào đây “gò chữ”. Lam vui vẻ nói: “Tin học khô quá thì mình vô đây gò chữ theo những bài thơ, câu văn mà mình thích để cho cuộc đời “mềm đi” đôi chút. “Rèn chữ là rèn người” mà”!

Bên gian trưng bày, thầy Vương Ấu Xuyên chỉ cho tôi bức thư pháp vừa đoạt giải nhì tại Hội thi thư pháp TP.Hồ Chí Minh vừa được tổ chức gần đây với bức: Mời ra tù, tập leo núi (thơ Hồ Chí Minh). Dù vẫn tuân chủ lối viết “chân” nhưng nét phẩy, nét mác, nét xổ rất mạnh mẽ, đều tay, không run. Các câu, chữ được trình bày cân đối, kết cấu hợp lý đã làm nên giá trị của tác phẩm này. Cũng tại cuộc thi này, CLB.thư pháp Sóc Trăng còn giành thêm 2 giải khuyến khích.
Huỳnh Vũ lam, một nhà giáo “rành rẽ” về hán tự và chữ nôm vui vẻ nói cùng tôi sau khi tham quan những bức thư pháp: “Có vẻ như phần lớn những bức được trưng bày tại đây mới chỉ là những bức vào hàng trung bình chứ chưa phải là những bức đặc sắc. Phần lớn vẫn là những bức được viết theo lối “chân”. Hai bức với lối viết “thảo” trên nền tranh thủy mặc mới thực sự tạo ấn tượng cho người thưởng lãm bởi nét bút mạnh mẽ, sắc sảo”.

Anh Duyên – thành viên ban chủ nhiệm và cũng là người tích cực để cho ra đời quán thư pháp chia sẻ: “Trước mắt tôn chỉ của CLB là phát động phong trào “rèn chữ” nên gian trưng bày chủ yếu là để dành cho hội viên “bình chữ, bình nét”. Riêng về hai bức thư pháp được viết theo lối thảo có dụng ý để mọi người hướng đến mà rèn giũa mình”. Anh cũng cho biết, tết dương lịch và âm lịch năm nay CLB sẽ tổ chức gian hàng triển lãm và viết thi pháp theo yêu cầu của khách hàng. CLB sẽ tổ chức người trực thường xuyên để thực hiện theo yêu cầu của khách hàng, cả thư pháp Hán tự truyền thống và thư pháp chữ Việt.


Riêng về những tranh cãi kiểu “có hay không thư pháp Việt”? Họa sĩ Phước Thảo bày tỏ chính kiến: “Dù là kiểu gì, có hay không thì cũng không quan trọng bởi lẽ, nói đến thư pháp là nói đến chuyện làm sao để viết chữ cho đẹp! Thông qua việc rèn luyện chữ viết, con người còn tự mình rèn mình về cách ứng xử, về một quan niệm sống cho đúng lẽ ở đời thông qua các câu, chữ mà mình để tâm vào. Vậy thì tại sao lại phải phân biệt chữ Hán hay chữ Việt”! Về điều này thì bản thân người viết cảm thấy “quá đúng” bởi đã từng “khổ sở” quá lâu vì nét chữ “gà bới” của mình. May mà giờ đây đã có máy “vi tính”. Nhưng đâu phải sẽ không bao giờ dùng đến bút mực?
Ngay trong ngày ra mắt CLB, đã có 2 bức thư pháp đã có người mua với giá cao theo đúng phong cách “chơi chữ”. Đó là bức Liên hoa (hoa Sen) đã được một khách hàng mua với giá 60 triệu đồng và đây là số tiền mà CLB đóng góp cho quỹ ‘Vì người nghèo” của TP.Sóc Trăng. Bức thứ 2 với hai chữ “Thành, Tín” đã được cửa hàng xe máy Thành Tín ở TP.Sóc Trăng “rước về” với giá 30 triệu đồng. Đây cũng là số tiền dành cho hoạt động của CLB.
Vậy là tết này ở TP.Sóc Trăng đã có nơi cho chữ! Ngày xuân, bạn muốn chữ gì? Riêng tôi chắc sẽ rước chữ “nhẫn” về nhà với tâm ý “ráng kiên nhẫn để sửa lại những nét chữ của mình”. Biết đâu từ “nhẫn để luyện chữ” mình lại còn “nhẫn” ở nhiều lĩnh vực khác!?

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

Ooc om bock “Hội hàng năm…”






Ngày 14 và 15.10 âm lịch hàng năm là những ngày lễ chính của lễ hội Oócombóc (lễ hội cúng trăng-đua ghe Ngo) của người Khmer ở ĐBSCL. Năm nay tỉnh Sóc Trăng đã nâng lễ hội này lên tầm “Lễ hội văn hóa”, khai mạc từ ngày 12/11 cho đến tận ngày 21/11 (ngày kết thúc hội đua ghe Ngo). Kể từ năm 2001, lễ hội Oócombóc và đua ghe ngo Sóc Trăng đã được Tổng cục Du lịch công nhận là 1 trong 17 lễ hội quốc gia.
Tạ ơn sau vụ mùa bội thu…
Xuất phát từ một tín ngưỡng dân gian cho rằng mặt trăng là thần bảo vệ mùa màng, người Khmer hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 12 theo Phật lịch, tương ứng tháng 10 âm lịch, mà năm nay là hai ngày 20 và 21/11/2010 dương lịch tổ chức lễ Oócombóc, để tỏ lòng biết ơn vị thần đã làm cho mùa màng tốt tươi, mang lại nguồn lương thực dồi dào cho con người.
Trước lễ cả tháng nhà nhà đã lo chuẩn bị làm cốm dẹp. Các thiếu nữ, các bà chị ra ruộng nếp lựa từng bông lúa nếp vừa chín tới, sau công đoạn rang sơ cho hạt nếp vừa “dẻo mình” nhưng không nổ hạt, các mẻ nếp được cho vào cối giã vừa tay làm hạt cốm trở nên dẹp mình và tróc vỏ trấu. Hình thức của cốm dẹp, cách làm gần giống như cách làm “cốm vòng” ở ngoài Bắc nhưng đơn giản hơn. Vào mùa này, khách đến nhà khi ra về thường được gia chủ gửi tặng một bịch “cốm dẹp” về làm quà. Để ăn cốm dẹp, chỉ cần thêm vào hộp cốm dẹp chút xíu đường, dừa nạo và chút nước dừa…trộn đều lên để cho cốm mềm, sau chừng 15 – 20 phút là ăn ngon. Hương thơm của nếp non mới, vị “béo ngọt” của dừa nạo và nước dừa thật khó quên. Đây còn là thứ “lương khô” rất đắc dụng cho những người đi xem đua ghe Ngo, nhưng ăn thì chỉ nên từng chút, từng chút nhúm nhỏ mới cảm nhận đầy đủ cái thú vị của cốm dẹp khi bụng đói.
Đêm rằm 14…ngay khi trăng vừa lên là các gia đình bắt đầu lễ cúng tạ thần. Bắt đầu lễ, sau lời khấn nguyện thành kính của gia chủ cúng lên thần những sản vật, đặc biệt không thể thiếu được cốm dẹp. Kết thúc lễ, một vị lão niên có uy tín trong nhà hốt một nắm cốm dẹp thật nhiều và "Oóc" (đút, nhét) vào miệng những đứa trẻ để chúng "om-bóc" (nuốt cốm) thì cụ già sẽ hỏi xem đứa trẻ có ước muốn gì trong năm tới. Họ tin rằng, lời ước này sẽ được chuyển đến Thần Mặt trăng và lời ước này sẽ trở thành hiện thực. Lễ cúng trăng còn liên quan đến câu chuyện ngụ ngôn "Con thỏ và mặt trăng". Xưa kia, thỏ từng là một kiếp hoá thân của Đức Phật sống bên bờ sông Hằng. Một hôm, thần Sakah xuống trần giả làm người ăn xin để thử lòng thỏ, không có gì làm phước, thỏ đốt lên đống lửa nhảy vào và nói "Mời người dùng thịt này". Lửa bỗng tắt ngấm và người ăn xin biến mất, thần Sakah hiện ra khen ngợi lòng hy sinh cao đẹp của thỏ và vẽ hình thỏ lên mặt trăng. Vì vậy, lễ cúng trăng còn để tưởng nhớ đến tiền kiếp của Phật Thích ca.
Sau lễ tại nhà, người ta đổ ra đường đi chơi hội..ở các tụ điểm chùa hoặc nơi có mặt bằng rộng rãi, bà con trong phum, sóc tổ chức thả đèn gió hay đèn nước. Thông thường ở mỗi điểm có ít nhất một chục cây đèn gió được thả, ráng rực cả một góc trời. Còn ở các con sông lớn, ngã ba sông rộng, bà con trong phum sóc tổ chức thả đèn nước(Lôipratip). Những chiếc bè kết bằng bẹ chuối, được trang điểm với giấy kính nhiều màu, còn dáng vẻ thì thật đa dạng tuỳ theo sự khéo tay của các nghệ nhân. Cả một đoạn sông rộng lung linh huyền ảo trong ánh nến từ các ngọn đèn làm nên một hội hoa đăng rực rỡ. Trên mỗi chiếc bè còn mang theo những sản vật mà chủ nhà dâng lên thần “Rồng (rắn thần Naya) vì thần đã đem nước về cho mùa màng, cây trái. Người ta tin rằng đây cũng là thời khắc mà thần tạm về nghỉ ở biển sau một vụ mùa mệt nhọc, những sản vật sẽ theo nước đưa về biển dâng đến thần. Tham gia lễ này, không chỉ có người Khmer mà còn có đông đảo người Hoa, người Việt ở Sóc Trăng cùng vui chung. Ngày xưa thì có khá nhiều hoạt động như: đấu võ, kéo co, chỗ kia biểu diễn văn nghệ như hát Dù kê, hát tập thể Romvông, Romxaravan, Lăm leo, A day... Những đêm văn nghệ, vui chơi diễn ra trong tiếng nhạc, tiếng trống dồn dập kéo dài trắng đêm. Còn năm nay, ngoài những tiết mục văn nghệ còn có hội thi trình diễn trang phục ba dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa được tổ chức ở trung tâm thành phố.
Lễ thả đèn nước còn phản ánh sinh động tín ngưỡng của những cư dân của nền văn minh “lúa nước”. Làm lúa, tưới rẫy, sinh sống gì gì thì cũng đều phải cần tới nước. Sông Mẹ (K’long) luôn cung cấp đầy cho con người. Nhưng cũng từ những nhu cầu của mình mà con người đã làm ô uế sông Mẹ. Vì vậy thông qua lễ thả đèn nước, con Sóc sẽ tạ tội với sông Mẹ để năm sau, sông Mẹ tiếp tục cho nước và phù sa đem no ấm đến cho con người. Trong đoàn rước đèn thì những “chú khỉ” múa trống Xà yăm sẽ dẫn đầu đám rước và hộ tống đám rước ra đến tận bến sông. Nếu để tâm một chút ta sẽ thấy, những nghị lễ quan trọng trong tín ngưỡng của người Khmer đều liên quan đến “nước, nguồn nước”. Điển hình như kết thúc lễ cúng đưa ông bà trong Lễ Đonta, người ta cũng thả một chiếc thuyền chứa những sản vật dâng cúng cho ông bà để ông bà về nơi đã về thăm con cháu…đó chính là nơi cội nguồn của sông Mẹ. Sau lễ thả đèn nước, đèn gió…mọi người sẽ cùng vui chơi, múa hát đến sáng hôm sau để vào hội đua ghe Ngo. Đây mới thật sự là hoạt động “đinh” của những ngày diễn ra lễ hội Ooc - om- bock, ngày mà hầu như ai cũng chờ đợi nhất.
…đến hội đua ghe Ngo.
Sáng hôm sau (15/10 Â.L), cái đinh của lễ hội chính là cuộc đua ghe Ngo. Theo truyền thuyết, chiếc ghe Ngo là hiện thân của rắn thần Naga rất linh hiển. Ngày xưa, khi đức Thích Ca ngồi thiền bên bờ hồ giữa rừng, rắn Naga là thần ác. Hôm ấy mưa to gió lớn, đức Thích Ca cảm hóa được rắn. Rắn bèn quấn tròn chung quanh và ngẩng đầu lên cao để che mưa gió cho đức Thích Ca. Từ đó về sau, người Khmer khoét thân cây sao, theo hình rắn, hằng năm bơi đua trên sông. Một chiếc ghe ngo dài khoảng trên 30m, chứa từ 52 đến 58 tay bơi. Mũi và đuôi ghe ngo cong vút tạc hình rắn thần Naga, thân ghe chạm hoa văn hình kỷ hà và được sơn màu sặc sỡ. Ngồi mũi ghe là một vị lão làng cầm chịch và giữa ghe là một vị giữ nhịp bằng cồng hoặc bằng còi để các tay đua bơi nhịp nhàng. Vào cuộc đua, những tay bơi đầu chít khăn đỏ, rạp mình cùng với nhịp nhún nhảy của nhịp dầm bơi, chiếc ghe Ngo như bay trên mặt sóng trông thật hùng dũng. Cả một đoạn sông như vỡ ra bởi tiếng reo hò của khán giả, tiếng reo vui chiến thắng của các tay bơi.
Chiếc ghe Ngo không chỉ là vật dụng sinh hoạt văn hoá được chế tạo, bảo quản ở trong chùa của từng phum, sóc... nó còn là một hình ảnh đại diện cho phum sóc của mình, biểu tượng của sự ấm no, sung túc...chính vậy mà tính chất của cuộc đua luôn hết sức quyết liệt. Hội đua ghe ngo ngày xưa được mở tại vàm sông lớn của các địa phương có đông người Khmer sinh sống. ở Sóc Trăng xưa là ở vàm Dù Tho, sông Nhu Gia. Theo truyền thống thì các ghe đua tới tự bắt cặp (cáp độ) đua từng đôi, từng đôi. Khi ấy, lúc xuất phát hai chiếc ghe không ở lằn mức nào nhứt định. Sông quá rộng. Hai bên cứ bơi chầm chậm lấy trớn tới. Hai chiếc ghe cứ “so cựa” với nhau như vậy. Chỉ đến khi hai vị chỉ huy nhìn nhau đồng ý đua thì mới bắt đầu cuộc đua. Các cặp đua với nhau hoặc mạnh hơn thì có thể chấp “kèo”, bơi qua mặt rồi lơi nhịp chờ ghe kia lên ngang bằng rồi “rút” để phân định thắng – thua. Khi đua, các ghe còn “so kè” đường nước, đặc biệt là kỵ nhất chuyện trước khi đua, ghe của đối thủ đụng mũi vào lườn ghe mình vì sợ đối phương “ếm bùa”, ghe khi đua có thể gãy làm đôi. Cũng ngày xưa, khi hai ghe đang đua nhưng nếu ghe kia vì bơi thua nên cố ý đụng làm cả hai chiéc bị chìm thì coi như xử huề.
Trước khi ghe Ngo được làm lễ “xuống nước”, các vận động viên phải tập bơi trên những “giàn cây” được ráp trong các con mương rộng. Giai đoạn này chủ yếu là để tập thể lực và rèn nhịp bơi theo hiệu lệnh của đội trưởng. Trước khi đua khoảng một tuần, các vị sư mới làm lễ xin “Niếc” cho phép hạ thủy để đội đua tập bơi thực sự trên sông nước. Trong đua ghe ngo, việc cầm lái, giữ lái để chiếc ghe đi thẳng tắp đúng hướng, nhịp bơi của những mái dầm phải thật nhịp nhàng là những yếu tố quyết định đến tốc độ của chiếc ghe vì khi đua, tốc độ của ghe Ngo khi về đích đạt đến trên 30km/h. Cầm lái yếu, khi chiếc ghe Ngo dễ dàng lật úp như chơi, đặc biệt là ở những khúc quanh. Kỹ thuật đóng ghe cũng là một bí quyết chỉ có các nghệ nhân biết, đặc biệt là nghệ thuật “dằn cây cần câu” ở giữa lườn ghe Ngo. Ngoài việc giữ cho chiếc ghe Ngo (vốn là chỉ một thân gỗ độc mộc) được chắc chắn chịu đựng được nhịp nhún và lực của các tay bơi, chiếc cần câu còn phải có được độ dẻo nhất định để làm sao cùng với mỗi nhịp nhún của các tay dầm thì mũi ghe cũng “cất mũi” rướn tới. Chỉ riêng việc đi tìm và lựa được một cây tràm như ý để làm “cần câu” cũng đã là một kỳ công. Ông Kim Quọ - ban quản trị chùa Bưng Ph’niết (Xã Liêu Tú – huyện Trần Đề) kể với người viết bài này một câu chuyện “vui” về hành trình này. Muốn tìm được cây tràm có độ dài như ý thì phải về vùng nào còn nhiều gốc tràm cổ thụ (ít nhất phải trên 40 năm). Cuối tháng 8 năm nay, ông Quọ và 2 người khác về Vị Thanh tìm tràm. Được anh “xe ôm” dẫn đi sau khi tốn hết 200.000 đồng…đi hơn 15 cây số vô tận trọng rạch Nàng trăng, thấy hai gốc tràm cổ thu chắc phải hơn 60 năm tuổi. Anh chủ nhà ra điều kiện “muốn mua thì phải mua 2 cây chớ không bán 1 cây”. Vì mê quá nên ông đồng ý và hỏi “giá bao nhiêu”? Anh chủ nhà ra giá 8 triệu cho cả 2 cây. Ông móc túi trả tiền “cái rột” chớ không trả giá. Cưa được 1 cây, cây còn lại vừa mới gá lưỡi vô thì đã nghe trên nhà có tiếng la mắng “chói lói” … “mày có biết 2 cây tràm đó là ông nội mày trồng. Nó còn lớn tuổi hơn cả tao nữa mà mày bán”!? Hóa ra là cha của anh chủ nhà đi chơi về thì biết chuyện con ở nhà đã bán 2 cây tràm nên la mắng. Ông và mấy anh em cưa riết, cưa riết…ông già chửi thì thây kệ. Ông Quọ thú thiệt với tôi rằng: “Mới nhìn thấy cây tràm là tụi tui mê muốn chết. 1 cây giá 10 triệu cũng mua liền. Ai dè 2 cây chỉ có 8 triệu thì trả giá cái nữa. Mừng hết lớn”!
Xem đua ghe ngo ai cũng thấy có một vị ngồi mũi. Thực ra vị trí này chỉ có tính chất tượng trưng, tinh thần là chính vì đây là vị trí thường là của “mạnh thường quân” trong bổn Sóc, đã có nhiều đóng góp về tài vật cho đội ghe như: góp gạo, mổ heo, bồi dưỡng dường, sữa để “o bế gà của Sóc mình”. Các vị lão làng kể lại khi xưa, có người góp tới 200 kg và 1 con heo lớn trong suốt một tháng đội ghe chuẩn bị nhưng chưa chắc đã được ngồi mũi. Các đội đua ở xa thì phải tổ chức ghe Cà hâu (một loại ghe lớn) để làm nhiệm vụ hậu cần. Đến kỳ hội ghe chở sư sãi, chở lương thực, chở người xem kéo tới chật cả hai bên bờ sông.
Đua ghe ngo xưa và nay!?
Ghe ngo ngày xưa là môn chơi độc quyền của cánh nam giới. Đàn bà con gái không được bước lên ghe ngo hoặc lại gần chiếc ghe khi để ở trong chùa. Vậy nhưng nay thì đã khác, nữ giới cũng xuống ghe Ngo và “đua”. Tất cả bắt đầu từ năm 2004, khi ban tổ chức và các vị acha “thống nhất” tổ chức giải đua ghe Ngo nữ lần đầu tiên. Năm ấy chỉ có 4 đội bơi ở hai địa phương là TX.Sóc Trăng và huyện Long Phú. Giải nhất năm ấy thuộc về ghe ngo nữ chùa Sầm Rộng và nhì thuộc về ghe ngo chùa Sóc Vồ, giải ba thuộc về ghe Ngo chùa Nước mặn (Long Phú). Đến nay thì ghe Ngo nữ đã trở thành phong trào với mỗi giải đua có ít nhất 10 đội tham gia và ở huyện nào cũng có ít nhất 1 đội ghe Ngo nữ. Có thể xem đây là một điểm nhấn quan trọng trong viêc thực thi “bình đẳng giới””?
Riêng về kỹ thuật bơi và rèn luyện thể lực cũng đã mang đậm phong cách hiện đại. Đó là việc chia bảng, chia vòng để thi đấu. Sau 3 vòng đấu sẽ trọn 8 đội vào bán kết để đấu tranh thứ hạng. Đường bơi cho ghe Ngo nữ là 800m và ghe Ngo nam là 1.200m. Bởi thời gian thi đấu kéo dài cả buổi, mỗi đội còn phải đến trước để bơi cho quen đường nước, lạch nước nên đòi hỏi thể lực của VĐV là rất lớn. Chính vậy trong khâu tập thể lực, các đội đều mời huấn luyện viên (HLV) chuyên nghiệp. Hứa Hoài Tâm – HLV đội ghe Ngo chủa Pô-thi Ph’đốp (xã Kế Thành, huyện Kế Sách), vốn là cựu VĐV đội nghe Ngo chùa Bốn Mặt (Phú Tâm – Châu Thành) danh tiếng cho biết: “Mỗi đợt bơi trung bình là 4 phút thì VĐV khi tập phải “xả được hết sức” trong 8 phút. Ai không đáp ứng nổi thì…”lên bờ”. Dù đội nào cũng có VĐV dự bị những bởi vô đấu thì phải bơi ít nhất 12 lượt nên nền tảng thể lực yếu thì không thể đáp ứng”. Ngay cả cây dầm bơi trong tập luyện cũng khác với cây dầm bơi chính thức khi thi đấu. Anh nói rằng “kỹ thuật bơi thuyền thể thao hiện đại” đang dần thay thế kiểu tập luyện và bơi “kinh nghiệm” ngày xưa.
Trong hội đua ghe Ngo năm nay ở Sóc Trăng, dự kiến sẽ có trên 29 đội ghe Ngo Nam và 7 đội ghe nữ của tỉnh tham gia đua tài, chưa kể các đội ghe Ngo của các tỉnh khác sẽ đăng ký sau. Trong số này thì phải kể đến những đội nghe Ngo cả nam và nữ đến từ Kiên Giang, Bạc Liêu, đây chính là những “ đối thủ đáng gờm” của các đội ghe Ngo Sóc Trăng.
Trung bình hàng năm lượng người đổ về xem đua ghe Ngo ở Sóc Trăng là trên 500.000 người.

Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

Nghe có đôi khi...chợt thương con gái!!


Buổi sáng mở blog của một anh bạn, chợt thấy bản Có đôi khi của nhạc sĩ Lã Văn Cường và cô ca sĩ Hồng Nhung mà mình rất thích nghe hát bài này. Nhớ hồi xửa hồi xưa ấn tượng nhất cái cô này là cái răng khểnh nhưng nay thì hình như cô đã "cải tạo" nên không thấy nữa. Chả sao! Cô vẫn xinh đẹp và hát hay như trước nên "hòa bình thế giới" vẫn không ảnh hưởng gì. He..he. lại chợt nhớ ra ...thì ra con gái lớn của mình cũng có cái răng khểnh giống giống cô này. Cách đây khoảng 2 tuần khi đi học về con gái nói với mình: "con khỏi niền răng đâu ba ơi. Răng như của con người ta nói là giá cỡ 18 triệu người ta mới làm. Con thấy để tiền đó mua cái xe honda để con đi học thêm còn có ý nghĩa hơn"!
Ái za! năm nay con đã học lớp 11, đã ra dáng thiếu nữ...chưa tính cũng đã cao vời vợi như cây tre. Mình không bảo con phải đi học thêm nhưng là nó tự thấy cần phải đi học những môn nào nó cảm thấy là yếu cần phải bổ sung kiến thức. Có ngày đi đến tận gần 9h tối mới về đến nhà. Cọc cạch chiếc xe đạp đúng là mệt thật. Ừ...chắc gần tết ba sẽ mua cho con cái xe máy!

Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

Đi chơi làng nghề "cốm dẹp" trong mùa Ooc om bock

Giống như bánh chưng, bánh tét trong ngày tết nguyên đán của người Kinh. Cốm dep là sản vật không thể thiếu trong lễ hội Ooc-om-boc của người Khmer nam bộ. Không chỉ để dùng mà đây còn là vật cúng, gắn liền với nghi thức “đút cốm dẹp” trong đêm rằm với lễ cúng thần Mặt Trăng. Và Oc-om-boc đang đến gần, nhịp chày giã cốm càng trở nên hối hả ở làng nghề Phước Quới - xã Phú Tân - huyện Châu Thành.Cung cách làm thì gần giống với làm cốm vòng nhưng ngon thì ...không bằng, bởi vì chất lượng của lúa nếp. Nhưng đến làng nghề để nghe mùi thơm nếp mới và nhấm nháp những hạt cốm còn mới thì còn gì bằng. Híc...bác nào có máu me chụp ảnh mà vào đây thì có lẽ...chụp gãy tay chưa muốn về nhé. Chỉ tiếc là anh chàng quay phim này không lùng được một cô gái nào gãi cốm để làm tươi đoạn phim này.
Mời cả nhà cùng đi chơi làng nghề xem rang cốm và giã cốm.

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

Sóc Trăng - Ooc – om – bock 2010 sẽ lung linh “đèn nước”…




Ở Sóc Trăng, mỗi khi ngọn gió chướng về thì các phum, sóc đã bắt đầu không khí nhộn nhịp, tưng bừng chuẩn bị cho những ngày lễ hội Ooc-om-bock. Năm nay, lễ hội Ooc-om-bock được tổ chức từ ngày 12 đến 20 tháng 11/2010, bắt đầu bằng sự kiện khai mạc Hội chợ triển lãm tỉnh Sóc Trăng năm 2010 tại khu văn hóa triển lãm tỉnh Sóc Trăng (Hồ nước ngọt) lúc 18 giờ ngày 12 tháng 11.


Từ phục dựng thả đèn Lôiprotíp..

Với chương trình đã được công bố thì có thể nói, lễ hội Ooc – om – bock Sóc Trăng năm nay là lễ hội được tổ chức lớn nhất kể từ khi tái lập tỉnh đến nay. Tính đến thời điểm này thì đã có 172 đơn vị trong và ngoài tỉnh đã đăng ký 426 gian hàng tham gia triển lãm. Với đặc thù là một tỉnh “nông nghiệp – thủy sản” là chính nên các mặt hàng chủ yếu của hội chợ này là thiết bị, sản phẩm cơ khí, thủ công mỹ nghệ, xây dựng, dược phẩm, trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, giống cây trồng…đặc biệt là chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và gian triển lãm văn hóa 3 dân tộc Kinh – Khmer - Hoa.

Đêm lễ cúng trăng 20/11 (đêm 14/10 lịch Khmer) thì ngoài những nghi lễ ở các gia đình, ban tổ chức lễ hội cũng tổ chức lễ thả đèn nước Lôiprotíp trên sông Maspéro. Ông Sơn Lương – P.giám đốc Văn Hóa –thể thao – du lịch Sóc Trăng cho biết: “Chúng tôi cố gắng phục dựng như nguyên bản lễ thả đèn Lôiprotíp (đèn nước). Lâu nay, do nhiều biến động về xã hội, kinh tế mà nhiều nơi đã không còn duy trì lễ này. Nghi thức lễ sẽ được cử hành Nhà Trưng bày Văn hóa Khmer của tỉnh với các tiết mục ca múa tập thể với các điệu múa rom vong, rom kbách, sarawan…Nhà sư tụng kinh cầu phúc. Sau đó mọi người sẽ rước chiếc kiệu protíp diễu hành qua các đường phố rồi thả trên dòng sông Maspéro ở đoạn giữa của hai cầu C 247 và 30/4”.

Ở đây cũng cần phải nói thêm – Lễ thả đèn nước là lễ hội dân gian vốn có từ lâu đời của người Khmer với ý nghĩa là lễ tạ ơn đất trời đã phù hộ một mùa vụ bội thu, phum sóc bình yên và mong muốn những điều tốt lành hơn trong năm sau. Làm lúa, sinh sống gì gì thì cũng đều phải cần tới nước nên nước của sông mẹ (sông cái) đã bị con người làm ô uế. Đây chính là lễ cúng để tạ tội với thiên nhiên. Trong đoàn rước đèn thì những “chú khỉ” múa trống Xà yăm dẫn đầu đám rước và hộ tống đám rước ra đến tận bến sông. Sau lễ thả đèn nước, đèn gió…mọi người sẽ cùng vui chơi, múa hát đến sáng hôm sau để vào hội đua ghe Ngo. Đây mới thật sự là hoạt động “đinh” của những ngày diễn ra lễ hội Ooc - om- bock, ngày mà hầu như ai cũng chờ đợi nhất.

..đến ghe Ngo nữ mới là số “zách”.

Để chuẩn bị cho những ngày lễ hội Ooc – om – bock, ít nhất là từ nửa tháng trước, các vị Acha và các nhà sư ở các chùa đã phải bàn bạc và chuẩn bị trước. Từ việc trang hoàng cho nhà chùa, sửa sang lại chiếc ghe Ngo, tuyển chọn những vận động viên và nhiều nơi còn phải tìm thuê huấn luyện viên để có kế hoạch tập luyện cho ngày tranh tài đua ghe Ngo.

Năm nay, ban quản trị chùa và bà con phật tử chùa Muni Sakor Domompil – tức chùa Xẻo Me ở xã Vĩnh Phước (Vĩnh Châu) quyết định đầu tư đóng mới chiếc ghe ngo (150 triệu đồng). Các vận động viên cũng nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật và ra sức luyện tập. Tất cả đều quyết tâm rất cao hòng đạt được vị trí cao ở hội đua ghe năm nay. Xẻo Me từng nổi tiếng với đội ghe Ngo có cú “nước rút” về đích ấn tượng nhiều năm liền nhưng gần đây thành tích đã thua xút nhiều do ghe cũ. Sau đợt tập thứ 1 chủ yếu là tập nhịp bơi kéo dài 8 ngày, hơn 100 chàng trai bước vào đợt tập luyện mới tại sân chùa rèn luyện thể lực và bước vào các đợt bơi thử. Anh Triệu Liên – Đội trưởng hào hứng nói:

-Đến giờ này thì tui tui gần hoàn thiện về kỹ thuật thi đấu và thể lực dưới sự giúp đỡ của trung tâm thể dục thể thao huyện. Mỗi người còn được xã cấp 10.000đ/ngày. Số tiền tuy không lớn nhưng anh em cảm thấy vui và phấn khởi hơn trong luyện tập.

Tuy phong trào ghe Ngo nữ ở Sóc Trăng chỉ mới phát triển trong 5 năm nay trở lại đây nhưng tên tuổi của những đội ghe nữ như: Đươm Pô của Trần Đề, Tức Rây của Long Phú, Kos Tung – Cù Lao Dung đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người hâm mộ bằng bởi đều tay bơi chắc chắc và đều nhịp, nước rút mãnh liệt cùng sự dẻo dai chẳng kém gì nam giới ở suốt 4 vòng đua. Năm nay, xã Lâm Tân (Thạnh Trị) cũng gia nhập làng ghe Ngo nữ với đội ghe Ngo chùa Lộ Mới. Dù đang vào đầu vụ lúa Đông Xuân, nông dân bận rộn với việc xuống giống cấy dặm lại những mảng lúa bị chết do mưa ngập, nhưng gần 3 tuần nay, khi trời vừa dịu nắng hoặc bớt mưa là hơn 70 chị em phụ nữ trong xã lại tập trung để tập “bơi đua”. Có người vẫn nguyên trên mình bộ đồ ám phèn vừa xong buổi làm đồng, có chị phải ẵm con theo, tốp đứng trên bờ chờ đến lượt, tốp dưới gàn tập hô hụi bắt đôi tay theo nhịp còi của người huấn luyện. Tất cả đều tất bật và phấn khởi vì đây là lần đầu tiên chị em được làm VĐV đua ghe Ngo. Vừa lên bờ sau cữ tập, chị Triệu Thị Đạ cười vui vẻ: “Thấy mấy chị ở chỗ khác đua ghe mình cũng ham lắm à nghen. Mê nhưng mà hổng biết sa? Năm nay mình có ghe là tui đăng ký liền. Bơi không chỉ vui mà mình còn bình đẳng với mấy ổng nữa chớ bộ”.

Huyện Thạnh Trị không phải là địa phương có phong trào ghe Ngo phát triển. Toàn huyện chỉ có hai, ba chiếc ghe ngo và đều dành cho các tay bơi nam. Năm nay, ngoài đóng mới phương tiện, vực dậy các đội ghe ngo nam thì huyện còn mạnh dạn đầu tư một đội ghe ngo nữ ở Chùa Lộ Mới ở ấp Kiết Lập B- xã Lâm Tân và được chị em nhiệt tình hưởng ứng. Không chỉ phụ nữ của Xã Lâm Tân mà các chị ở các ấp lân cận cũng đăng ký. Sống giữa mênh mông đồng ruộng, dày đặc kênh rạch nên chuyện chèo chống đã quá quen thuộc với các chị, nhưng đây là ghe Ngo, đòi hỏi những động tác kỹ thuật đặc thù nên những ngày đầu tập luyện, không ít chị còn bỡ ngỡ. Nhưng chỉ sau một tuần là các chị đều quen ngay.

Trước không tinh thần và không khí tập luyện của các chị, Đại đức Lâm Cung, trụ trì Chùa Lộ Mới nói cùng chúng tôi:

- Bổn chùa cũng gián đoạn đua ghe mấy năm rồi. Thanh niên cũng nhớ lắm nhưng ghe mình cũ quá phải sửa sang lại. Năm nay có ghe Ngo mới và có thêm cả đội ghe nữ nữa thì tui cũng như bà con trong bổn sóc rất vui. Chỉ cần thấy sinh hoạt mỗi buổi chiều ở đây là nhà báo đã thấy đó.

Quả đúng như vậy. Có đến đây một lần, gặp nhiều chị vừa làm xong chuyện ruộng đồng đã vội cầm dầm tập bơi với bao niềm háo hức. Xong cữ tập, buông dầm nhảy ngay lên bờ ẵm con hoặc rút về nhà lo bữa cơm chiều mới thấy hết sự thu hút đến lạ kỳ của môn thề thao này với người Khmer. Năm chục người dưới giàn tập thì trên bờ luôn có cả trăm người…từ cha, mẹ, chồng, con, cháu đến cổ vũ. Ghe Ngo đã thật sự là niềm vui của chị em nơi vùng sâu này.

Ooc – om – bock năm nay chắc chắn là vui nhiều hơn mọi năm bởi không chỉ có thêm nhiều ghe mới mà còn là âm hưởng của một vụ lúa vừa trúng mùa, vừa trúng giá./.

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010

Những "cần thủ bông lau" trên dòng sông Hậu






Ở Sóc Trăng có khá đông người mê câu bông lau và có cả những xóm mưu sinh bằng nghề câu loài cá này. Hoàng Sơn, hiện công tác trong ngành công an – quản forum của nhóm câu cá "Dơi ngựa lớn" cho biết: "Mãi đến cuối năm 2008, tụi này mới quyết định gom anh em thành lập một câu lạc bộ, chủ yếu là để trao đổi kinh nghiệm và gom nhau đi câu là chính.

Tập tễnh vào nghề
Cái "nghề" này hơi bị khó ở chỗ là các cụ "lão làng" thường hay giấu nghề nên người mới tập tành câu cá bông lau muốn trở thành "cần thủ" cũng khó nếu như không có điều kiện để trao đổi kinh nghiệm "câu kéo". Còn Đức Hoa (Sở Tài nguyên và Môi trường Sóc Trăng), một "cần thủ chính hiệu" hiện đang giữ kỷ lục "cho lên bờ một em bông lau nặng 8,5kg" thì vui vẻ nói: Với những người lấy nghề câu cá bông lau làm cuộc mưu sinh thì mình cũng không trách họ, bởi càng nhiều người câu thì "nồi cơm" của họ càng nhỏ lại. Nhưng tụi mình, với tiêu chí "vui là chính" nên chuyện này là chuyện bình thường vì có... đông mới vui...

Trò chuyện cùng những cần thủ Sóc Trăng, chúng tôi mới ngộ ra nhiều chuyện: Hóa ra những người lấy nghề câu cá bông lau làm nghiệp mưu sinh thì giàn câu của họ là giàn câu viền, bình quân mỗi giàn câu từ 300 - 500 lưỡi, mồi họ dùng thì tùy theo mùa nhưng phổ biến là con gián và trái bần chín. Ở xã An Thạnh Ba, huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng) có cả xóm làm nghề này. Vô mùa, mỗi ghe câu một đêm kiếm ít nhất cũng được 4 - 5 con. Nhưng với những cần thủ "bông lau" thì chỉ dùng cần máy, mỗi cần một lưỡi và thẻo câu, chì câu mỗi người mỗi vẻ. Cá bông lau vốn chỉ ăn sát đáy nên thành bại của "cần thủ" chính là lố chì câu mà họ mang theo. Để lưỡi câu "nhạy xóc" trong những cú giật, thường thì mỗi tay câu đều dùng một bộ thẻo câu đã được làm sẵn bán ngoài chợ hoặc trong các tiệm câu hoặc tự mình "tết" cho mình một bộ thẻo như ý. Bộ thẻo câu bông lau thường gồm những phần: bộ chống rối, dây nối lưỡi (link), thẻo lưỡi, thẻo chì. Chì thì gồm nhiều kích cỡ với kiểu dáng – bắt đầu từ 150g cho đến ngoại hạng 400g.

Bộ chống rối thường dùng là cái chữ T, được các tiệm câu bán sẵn, nhưng dân câu Sóc Trăng thường ít dùng thứ này mà tự tết hoặc "độ" cho mình những bộ chống rối theo ý mình. Đại để thì cả các bộ chống rối đều cần đến Maniven (trục xoay – ma - ní), khóa móc. Ma-ní rất cần bởi khi dính câu, cá bông lau nhào lộn rất dữ hòng tháo lưỡi và bứt nhợ nên cả phần dây link và dây lưỡi phải xoay theo để dây không bị vặn xoắn, gây "cóc dây" (đứt dây) bất tử. Dân câu Sóc Trăng chê chữ T vì khó ném và dễ xoắn, rối link làm mắc kẹt cục mồi trên chảng ba. Gặp trường hợp này thì ngồi "sáng đêm cũng không có ma nào rỉa chớ đừng nói dính cá".

Niềm đam mê của những cần thủ bông lau
Có câu nói nằm lòng trong giới cầm cần: "Phi bông lau bất thành cần thủ". Cho nên với dân mê câu cá bông lau thì hầu như những khó nhọc, rắc rối trong cuộc đời đều có thể "vượt qua" nhanh chóng nếu như ngay con nước vô mùa. Chuyện vợ cấm vận vô nhà hay vào cơ quan với cặp mắt lờ đờ như kẻ nghiện mỗi sáng, được xem như chuyện nhỏ. Với những tay câu thì không có gì buồn bằng chuyện ngay con nước mà không vác cần ra bãi được, rồi trời mới chớm sụp tối hoặc nửa đêm nhận được tin nhắn "Sơn lên được 2 con rồi. Còn Hoa vừa lập kỷ lục". Chắc chắn đọc tin xong, hắn sẽ tắt ngay máy điện thoại. Chính vậy mà dân câu bông lau có thuật ngữ "nhớ nước, nhớ mùng". Nước ở đây là con nước, còn mùng ở đây không phải là cái mùng để ngủ mà là ngày dưới - ngày âm lịch.

Chỗ "ngồi đồng" thường xuyên của nhóm "Dơi ngựa lớn" hơn 3 năm nay là ở cầu Mỹ Thanh I vì ngồi trên cầu, ngay thẳng giọt dòng ưng ý nhất mà thả cần, khỏi mất công mướn ghe. Phía dưới hạ lưu cầu Mỹ Thanh I là hai hàng đáy mà theo kinh nghiệm thì "cứ thả mồi trước hàng đáy cỡ vài chục mét là chắc cú lên cá". Cần thủ Hoàng Vũ nói cùng chúng tôi. Anh vốn là dân An Thạnh Đông (cù lao Dung), nên khá rành chuyện dòng chảy, con nước và lạch nước. Theo anh, các hàng đáy luôn đóng ở vị trí dưới "hụm nước" một chút để hứng cá trên giọt dòng xuống. Còn cá bông lau thì luôn theo giọt dòng đi ngược lên để đón mồi. Nhóm "Dơi ngựa lớn" đã từng lập kỷ lục – trong 4 giờ (từ 18 giờ đến 22 giờ) đã lên được 12 chú bông lau, con lớn nhất là 4,7kg còn nhỏ nhất là 2,4kg. Anh còn cho biết thêm: Từ hụm nước cầu Mỹ Thanh I đến tận ngã ba Cổ Cò (huyện Mỹ Xuyên) là đoạn sông "cá ở". Cá ở là những chú bông lau cư ngụ tại chỗ chứ không di chuyển vùng sinh sống theo con nước, mồi kiếm được đầy đủ hơn nên luôn có kích cỡ lớn và mập, tròn hơn "cá đi" - ốm bụng và dài đòn.

Độ hơn một năm nay, một điểm khác mà nhóm hay tập kết là trên cầu Mỹ Thanh II, cũng bắc qua cửa Mỹ Thanh những đã đổ sát ra biển, gần cửa Trần Đề, nối liền tuyến đường Nam sông Hậu từ Cần Thơ tới tận Cà Mau. Vì ngay cửa nên cá ở đây cũng thường lớn hơn cá trong sông. Đức Hoa đã lên ở đây một chú bông lau 8,5kg và lập kỷ lục "người lên cá to nhất" của nhóm "Dơi ngựa lớn". Sẵn đây kể luôn chuyện kỷ lục. Người đang giữ kỷ lục cá ngát to nhất là anh Bắc, Trưởng Phòng Kỹ thuật Công ty Út Xi với chú cá ngát nặng 5,6kg câu được ở cầu Mỹ Thanh I. Cũng ở đây, tài xế Tý câu được con cá đắt nhất, đó là chú cá lù đù dính ngang bụng nặng chưa tới 100g nhưng tiền mồi phải chia là 48.000đ...

Dân câu Sóc Trăng đa số dùng mồi trùn lá, giá trung bình hiện nay là 120.000đ/kg. Trùn lá cực tanh thành ra mỗi khi dân câu ôm cần về nhà, thường phải làm vệ sinh thật sạch mới dám bước vô nhà. Cần thủ Thành Long đã từng bị vợ... đạp ra khỏi mùng và con gái út thì giãy nảy: "Ba ơi... ra sân đi! Tanh quá hà". Với dân câu Sóc Trăng thì xài trùn biển là quá sang vì mỗi phần câu (200g) giá tới 120.000đ. Nhưng cũng phải nói rằng với trùn biển thì những loại mồi khác mà gặp thì chỉ có nước... "xách cần câu đi chỗ khác" vì loanh quanh ở đó chả có cá nào thèm dòm ngó.

Mai này còn cá để câu?

Cá bông lau có nhiều ở những vùng cửa sông và những giọt dòng chảy mạnh, nền đáy láng trên sông Hậu. Nhưng quãng 2 năm gần đây thì chủ yếu có nhiều ở cửa Định An và cửa Mỹ Thanh. 2 năm trước, dọc theo khu vực cảng Trần Đề từng là điểm đến của dân câu bông lau Sóc Trăng nhưng nay thì hầu như chỉ... lác đác vài con "đi lạc". Tại sao ư? Ngoài chuyện cửa Trần Đề đang bị bồi lắng, thay đổi dòng chảy thì vấn nạn "pha loãng" nước thải, chất thải của các nhà máy chế biến thủy sản đổ ra sông Hậu cũng làm đàn cá bông lau không còn dám ghé đến và cư ngụ như trước. Tháng 8 năm ngoái (2008) ở cầu Mỹ Thanh, nhóm "Dơi ngựa lớn" đã liên tục kéo lên hơn 20 chú bông lau... đều có "lác" trong 2 con nước. Tất cả những con cá này đều mang trên mình những mảng mụn đỏ. Cả nhóm đồ rằng có thể bầy cá này "mắc bệnh" do ô nhiễm môi trường nước vùng cửa sông hoặc trong sông gây nên. Cần thủ Thành Long cũng mang một chú cá mắc bệnh đi hỏi các kỹ sư thủy sản nhưng chưa nhận được câu trả lời. (Viết thêm: Sau cuộc hỏi thăm thì chú cá này tất nhiên cũng được sẻ thịt làm một nồi canh chua trái giác, uống rượu đế ST5. Và sau này hỏi những tay làm nghề đóng đáy thì được biết, những mụt đỏ này thực chất là do một loài cá mà người ở đây gọi là con cá "éc", dài dài và mỏ là cái giác hút kiểu như con đỉa. Con cá này sống ngoài vùng biển hoặc cửa sông lớn và bám vào những con cá lớn (vẫn thường thấy những con cá này bám trên cá voi, cá kiếm, cá mập...). Nếu câu dính một vài con bông lau có những "mụt" (ngoài bắc gọi là mụn - nốt) thì rất nhiều khả năng là có cả bầy cá từ ngoài biển vào. Híc...câu trúng là phải đạo rồi)).

Nhưng dù gì vẫn có một điều mà chúng tôi tin chắc là cá bông lau trên sông Hậu, sông Mỹ Thanh hiện đang vắng dần. Dù vậy, những cần thủ bông lau vẫn miệt mài theo con nước vì "nhớ nước" và nhớ cảm giác khó tả khi "ngồi thiền" nhìn đọt cần câu chờ "cú mổ" để làm một cú "rờ-ve" hoành tráng, với hy vọng cú này sẽ bắt được "khủng long".

Nhưng hỡi ôi... "thời oanh liệt nay còn đâu", vì dòng sông coi bộ bị ô nhiễm quá rồi!